Chương 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và sự cần thiết của đề tài 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu của Barney (1991) đã chỉ ra rằng, lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc sở hữu và khai thác các nguồn lực độc đáo, quý hiếm và không thể thay thế. Các nguồn lực này bao gồm vật chất, phi vật chất, nhân sự và tổ chức. Tiếp theo, Grant (1991) tiếp tục phân loại nguồn lực thành nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình, như nguồn lực vật chất, tài chính, nhân sự, công nghệ và danh tiếng.
Các yếu tố này không chỉ bao gồm các yếu tố bề ngoài như cơ sở vật chất, mà còn bao gồm cả nguồn lực không vật chất như văn hóa doanh nghiệp và quan hệ với đối tác. Prahalad & Hamel (1990) đề xuất năng lực lõi là yếu tố then chốt trong việc sử dụng nguồn lực để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Điều này nhấn mạnh rằng không chỉ việc sở hữu nguồn lực mà còn là khả năng quản lý, phát triển và tận dụng chúng một cách hiệu quả là quan trọng đối với doanh nghiệp. Để cụ thể quan điểm này, Amit & Schoemaker (1993) xác định 04 yếu tố năng lực ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là, năng lực đổi mới, năng lực quản trị, năng lực kỹ thuật và công nghệ, năng lực tổ chức và quản lý.
Ngoài ra, năng lực của tổ chức là khả năng thực hiện các hoạt động sản xuất một cách trực tiếp hay gián tiếp nhằm tạo ra giá trị cho tổ chức đó, các năng lực như khả năng tiếp thị, khả năng phát triển sản phẩm mới và khả năng sản xuất (Morgan và cộng sự, 2009). Hơn nữa, Meyer và cộng sự (1992) chỉ ra vai trò quan trọng của năng lực về công nghệ, năng lực nghiên cứu và phát triển, năng lực sản xuất - chế tạo và năng lực tiếp thị. Tiếp theo, nghiên cứu của John Kay (1993) cho rằng năng lực khác biệt có những thuộc tính không thể sao chép bởi các công ty khác nên cho phép công ty tạo ra lợi nhuận tốt nhất. Những năng lực khác biệt này cho phép công ty tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Những năng lực này được xác định gồm, sự đổi mới, danh tiếng, mối quan hệ. 2 Cuối cùng, Porter (1985), xác định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên 02 chiến lược cơ bản là chi phí thấp và khác biệt hóa. Nghiên cứu xác định cách thức mà các doanh nghiệp có thể triển khai nguồn lực và năng lực cốt lõi của mình vào các chiến lược cụ thể, từ việc tạo ra sản phẩm/dịch vụ độc đáo (khác biệt hóa) đến việc tối ưu hóa hiệu quả về chi phí. Qua việc kết nối các nghiên cứu này, chúng ta thấy một hình ảnh toàn diện về cách doanh nghiệp xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh trong một môi trường kinh doanh đầy thách thức và đổi mới.
Sự phát triển và áp dụng hiệu quả các nguồn lực, năng lực cốt lõi, và năng lực khác biệt có thể dẫn đến việc xác định và thực hiện chiến lược cạnh tranh phù hợp, từ đó đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững. Bối cảnh giáo dục đại học trong những năm gần đây, đặc biệt là tại các trường ĐHNCL, đã chứng kiến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết. Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng về cách thức các trường ĐHNCL xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Trong bối cảnh này, nghiên cứu về tác động của nguồn lực và năng lực đến lợi thế cạnh tranh đóng vai trò quan trọng, với nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện.
Các yếu tố về nguồn lực vật chất như cơ sở vật chất hiện đại (Douglas và cộng sự, 2006; Lisnawati & Gunarto, 2021), vị trí địa lý (Aydın, 2013; Essien & James, 2024; Lynch & Baines, 2004), và khuôn viên trường (Lynch & Baines, 2004) đều là những thành phần then chốt ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh. Nguồn tài chính, thông qua việc đầu tư mở rộng cơ sở vật chất và tăng trưởng (Marginson, 2004; Musselin, 2018), tỷ lệ hỗ trợ tài chính (Peteraf, 1993), học bổng sinh viên và hỗ trợ vay không lãi suất (Ullah, 2022), cũng như mức học phí ổn định (Sulistiyo Soegoto & Soegoto, 2018), tạo ra nền tảng tài chính vững chắc cho các trường ĐHNCL. Nguồn nhân lực là một yếu tố không thể thiếu, với giảng viên có trình độ chuyên môn cao (Wright & Jenkins-Guarnieri, 2012), có kiến thức xã hội tốt (Brower và cộng sự, 2017), và thái độ tích cực của nhân viên (Essien & James, 2024). Đồng thời, năng lực nghiên cứu và phát triển cũng là một thành phần quan trọng, bao gồm 3 tích hợp nghiên cứu vào chương trình giảng dạy (Aldabbas & Oberholzer, 2023; Bok, 2015; Pangarso và cộng sự, 2020), xuất bản các công trình chất lượng (Clark, 1998), và những thành tựu nghiên cứu thu hút tài trợ (Marginson, 2007).
Năng lực quản lý và điều hành hiệu quả của trường, bao gồm chiến lược giáo dục đáp ứng nhu cầu thị trường (Meltareza & Tawaqal, 2023), khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo trong nghiên cứu khoa học (Manzoor và cộng sự, 2023), cùng hiệu quả quản lý nguồn nhân lực (Butt và cộng sự, 2020) và hỗ trợ linh hoạt cho các phương pháp giảng dạy mới (Pangarso và cộng sự, 2020), góp phần đáng kể vào việc duy trì lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, năng lực tuyển sinh và marketing được thể hiện qua việc sử dụng chiến lược marketing đa kênh (Kotler & Keller, 2006), tối ưu hóa quy trình và thủ tục (Levinson & Perry, 2011), và xây dựng thương hiệu hiệu quả (Rosdi, 2017). Các hoạt động marketing mạnh mẽ của trường cũng thúc đẩy sự gia tăng số lượng đăng ký của sinh viên (Wahab và cộng sự, 2023; Meltareza & Tawaqal, 2023). Sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy (Brennan và cộng sự, 2014), tích hợp công nghệ mới (Brown & Kurzweil, 2017), và chương trình hợp tác quốc tế (de Wit, 2011; Dziubata và cộng sự, 2021) đã tạo nên sự khác biệt đáng kể.
Danh tiếng của các trường ĐHNCL cũng được củng cố nhờ thành tựu về cơ sở vật chất, logo, hình ảnh (Chan và cộng sự, 2023), chất lượng giảng viên (Harahap và cộng sự, 2018), và danh tiếng tổng thể của trường đại học (Klein, 2021). Cuối cùng, mối quan hệ với mạng lưới cựu sinh viên (Helyer & Lee, 2014), hợp tác với doanh nghiệp (Perkmann và cộng sự, 2013), và sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên (Haverila & Haverila, 2021) đều đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố vị thế cạnh tranh của các trường ĐHNCL. Trong các nghiên cứu về nguồn lực và năng lực tại Việt Nam, các tác giả thường tập trung vào việc phân tích cả nguồn lực hữu hình và vô hình mà các doanh nghiệp sở hữu, từ tài chính, nhân lực, công nghệ đến thương hiệu và quan hệ khách 4 hàng. Các nghiên cứu này đã đưa ra những phân tích sâu sắc về yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong từng ngành.
Phạm Đức Chính (2016) chỉ ra rằng mọi doanh nghiệp đều có khả năng phát triển lợi thế cạnh tranh, bao gồm lợi thế về chi phí thấp và khác biệt hóa. Nghiên cứu này cũng xác nhận rằng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp. Tiếp theo, Nguyễn Thành Long (2017) đã tổng hợp lý thuyết về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành du lịch tại Bến Tre. Tác giả xác định 08 yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch bao gồm kỹ năng tiếp thị, thương hiệu, khả năng tổ chức và quản lý, trách nhiệm xã hội, chất lượng sản phẩm/dịch vụ, nhân lực, giá cả cạnh tranh, và điều kiện môi trường tại điểm đến.
Tiếp theo, (Nguyễn và cộng sự, 2015) đã xác định 07 yếu tố nội bộ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam, bao gồm tiềm lực tài chính, vốn trí tuệ, chất lượng sản phẩm, trình độ công nghệ, chất lượng dịch vụ, thương hiệu và uy tín, và mạng lưới hoạt động. Cuối cùng, Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009) đã tập trung vào việc định lượng các yếu tố tạo nên "năng lực động" của các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu tập trung vào định hướng kinh doanh, định hướng học hỏi, năng lực tiếp thị và năng lực đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ kiểm định ở mức độ tổng quan và không tập trung vào từng ngành nghề cụ thể, do đó không phát hiện ra sự khác biệt trong vai trò của các yếu tố năng lực động giữa các ngành.
Ngoài các nghiên cứu về nguồn lực và năng lực trong ngành Giáo dục đại học thì vẫn có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về các ngành khác về lợi thế cạnh tranh cũng đã được thực hiện trong những thập kỷ qua. Mặc dù đã có những nghiên cứu liên quan nguồn lực và năng lực, lợi thế cạnh tranh được thực hiện, nhưng theo tác giả nhận thấy, trong những nghiên cứu này lại chủ yếu tập trung vào các nguồn lực hoặc năng lực riêng lẻ và chưa cụ thể hoá từng từng thành phần của khái niệm nguồn lực và năng lực, hoặc thành phần lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh giáo dục ĐHNCL vẫn chưa đưa rõ ràng. Hơn nữa, các nghiên cứu chưa thể hiện rõ vai trò trung gian 5 của năng lực khác biệt dưới sự tác động của nguồn lực và năng lực đến lợi thế cạnh tranh. Để xác định lợi thế cạnh tranh các hãng hàng không, Nguyễn Hải Quang (2017) cho rằng, lợi thế cạnh tranh các hãng hàng không thông qua sự khác biệt về sản phẩm hàng hoá, khả năng đáp ứng và chất lượng sản phẩm, bao gồm các yếu tố như thời gian vận chuyển, đúng giờ, và quy trình thủ tục đơn giản và linh hoạt.
Bên cạnh đó, Hoskisson và cộng sự (1999) nhấn mạnh rằng nguồn lực vật chất, con người, quản lý linh hoạt và dịch vụ khách hàng xuất sắc là các yếu tố chính quyết định lợi thế cạnh tranh trong ngành hàng không. Nghiên cứu của Wright và cộng sự (2001) về ngành du lịch chỉ ra rằng sự kết hợp giữa nguồn lực độc đáo như vị trí địa lý và di sản văn hóa, cùng với năng lực cốt lõi như dịch vụ khách hàng và quản lý địa điểm, là chìa khóa để tạo ra ấn tượng mạnh mẽ trong lòng khách du lịch.