MỞ ĐẦU Xương bả vai đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì động học phức tạp của toàn bộ khớp vai.1 Những thay đổi về vị trí cũng như chuyển động có thể quan sát được của xương bả vai (XBV) trên lồng ngực được định nghĩa là loạn động xương bả vai (LĐXBV).2 Theo các báo cáo, tỷ lệ LĐXBV ghi nhận khá thay đổi giữa các đối tượng nghiên cứu khác nhau. Trong đó, những vận động viên chơi thể thao giơ cao tay chiếm tỷ lệ rất cao, lên đến 61% (so với các vận động viên chơi thể thao không giơ cao tay chỉ khoảng 33%). Tỷ lệ này còn có thể tăng đến 67 – 100% ở những vận động viên có chấn thương vai đi kèm.3 Hoặc gần đây, nghiên cứu của Vongsirinavarat và cộng sự4 trên những đối tượng nhân viên văn phòng – thường xuyên phải sử dụng máy tính hàng ngày – thì có đến 90% trong số đó biểu hiện LĐXBV. Không những thế, LĐXBV còn khá phổ biến trong dân số nói chung, không chỉ riêng các đối tượng đến khám vì đau vai.
Thực tế, một báo cáo với 40 người khoẻ mạnh tham gia nghiên cứu, ghi nhận được 68% trong số đó mắc LĐXBV không triệu chứng.5 Từ các dẫn chứng nêu trên, chúng tôi nhận thức được rằng LĐXBV là một rối loạn khá thường gặp trên lâm sàng, cần có sự lưu tâm đúng mức. Nhiều nghiên cứu phát hiện LĐXBV thường đi kèm với các bệnh lý vùng vai như (hội chứng chèn ép khoang dưới mỏm cùng, bệnh lý gân cơ chóp xoay, mất vững khớp vai, rách sụn viền…) và có thể làm tăng nặng hơn các tình trạng bệnh lý hiện có này. Mặc dù cho đến hiện tại, mối quan hệ nhân quả giữa LĐXBV và các bệnh lý nêu trên vẫn chưa thực sự rõ ràng, tuy nhiên các đồng thuận đều cho rằng sự thay đổi trong động học XBV có thể ảnh hưởng tới cơ chế hoạt động của vai.6 Tuy vậy, LĐXBV lại là một nguyên nhân thường bị bỏ sót trong chẩn đoán ở các bệnh nhân đến khám vì đau và giảm chức năng vùng vai.7 Trong khi, tình trạng rối loạn này ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sinh hoạt hằng ngày cũng như khả năng làm việc và chơi thể thao của người bệnh, dẫn đến suy giảm chức năng và chất lượng cuộc sống của họ.8 Hơn nữa, một số nghiên cứu theo dõi dọc sau điều trị phẫu thuật bệnh lý vùng vai ghi nhận, tình trạng LĐXBV vẫn có thể tồn tại kéo dài sau đó từ vài tháng đến 2 năm.9 Do đó, hàng loạt nghiên cứu can thiệp có nhóm chứng đã được thực hiện. 2 và đem lại kết quả tích cực khi phát hiện việc có phối hợp phục hồi chức năng (PHCN) XBV cải thiện hiệu quả tốt hơn so với chỉ PHCN bệnh lý vai đơn thuần.10,11 Vì lý do đó, một chương trình PHCN cho LĐXBV hiệu quả hiện đang được các nhà nghiên cứu cũng như các bác sĩ lâm sàng đặc biệt quan tâm.
Trong vòng hơn hai thập kỷ trở lại đây, nhiều nghiên cứu trên thế giới về chương trình PHCN XBV đã được thực hiện. Hầu hết các nghiên cứu đều thiết kế chương trình tập luyện dựa trên nguyên tắc chung là kéo dãn hoặc tập mạnh các cơ quanh bả vai để cải thiện sự mất cân bằng và hoạt hoá giữa các cơ.1,7,12,13 Tuy nhiên, mỗi loại LĐXBV khác nhau sẽ có những biểu hiện mất cân bằng cơ khác nhau. Do đó, các nghiên cứu hiện tại còn thiếu sót trong việc lựa chọn các bài tập ổn định XBV riêng biệt cho từng loại loạn động. Đến nay, chỉ mới có tác giả Tang (2021)12 đề ra chương trình PHCN XBV dựa theo từng loại LĐXBV.
Tại Việt Nam, vấn đề can thiệp kết hợp chương trình PHCN XBV chưa thực sự được quan tâm chú ý, hơn nữa đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của bài tập ổn định XBV vào việc cải thiện vị trí XBV và chức năng vùng vai ở bệnh nhân có LĐXBV. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi: Hiệu quả cải thiện chức năng vùng vai và vị trí xương bả vai của chương trình tập luyện theo Tang trên bệnh nhân có LĐXBV như thế nào?. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá mức độ cải thiện chức năng vùng vai và các cơ quanh bả vai khi áp dụng chương trình tập luyện của Tang trên bệnh nhân có LĐXBV.
Đánh giá mức độ cải thiện vị trí xương bả vai khi áp dụng chương trình tập luyện của Tang trên bệnh nhân có LĐXBV. Giải phẫu xương bả vai Xương bả vai dạng dẹt hình tam giác nằm áp phía sau lồng ngực.1) Tại vị trí giải phẫu, XBV ở vị trí tương quan với thân đốt sống từ T2 đến T7, với bờ trong cách đường giữa cột sống khoảng 6cm. XBV có chức năng kép: thứ nhất là nơi bám của nhóm cơ kiểm soát và giữ ổn định khớp ổ chảo – cánh tay, thứ hai là kết hợp mật thiết với xương đòn giúp tăng chuyển động của khớp ổ chảo – cánh tay.15 Xương bả vai có 2 mặt, 3 bờ và 3 góc. Các mặt gồm có: (1) mặt trước lõm, còn gọi là hố dưới vai, trong hố tạo nhiều gờ chếch hình nan quạt giúp cơ dưới vai bám vào chắc hơn, (2) mặt sau có gai vai , đầu ngoài gai vai dẹt gọi là mỏm cùng vai, nơi có diện khớp mỏm cùng vai khớp nối với xương đòn.
Gai vai chia mặt sau bả vai thành hai hố: hố trên gai và hố dưới gai.15 Các bờ: (1) bờ trên, (2) bờ ngoài và (3) bờ trong, sờ thấy được. Ở tư thế tay áp sát thân người, bờ trong song song với cột sống. Bờ ngoài chạy từ góc dưới đến góc ngoài. Bờ trên kéo dài từ góc trên về phía mỏm quạ.16 Các góc: (1) góc trên hơi vuông, (2) góc dưới hơi tròn, góc dưới sờ được và là một phương pháp thuận tiện để xác định sự chuyển động của XBV trong khi cánh tay nâng lên, (3) góc ngoài tạo một hõm khớp hình trái xoan gọi là ổ chảo, ổ chảo dính với thân xương bởi một chỗ xương thắt lại gọi là cổ xương bả vai, phía trên và dưới ổ chảo có 2 củ nhỏ là củ trên và củ dưới ổ chảo.14 Xương bả vai khớp với chỏm xương cánh tay tại ổ chảo.
Nằm ở bờ trên và bờ dưới của hố ổ chảo là củ trên ổ chảo và củ dưới ổ chảo, đây chính là nguyên uỷ của đầu dài gân cơ nhị đầu, và đầu gần gân cơ tam đầu cánh tay. Gần với bờ trên hố ổ chảo có phần nhô ra của XBV – chính là mỏm quạ, cung cấp nhiều điểm bám cho các dây chằng và gân cơ quan trọng ở vùng vai. Xương bả vai “Nguồn: Kenhub, 2021” 17 1. Sinh cơ học xương bả vai trong vận động vai 1.
Tổng quan về các thành phần của đai vai Các khớp trong phức hợp đai vai hoạt động như một chuỗi liên kết động học để tối ưu hóa phạm vi chuyển động của chi trên. Một liên kết bị suy yếu hoặc không ổn định tại bất kỳ vị trí nào trên chuỗi động học này cũng sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả của toàn bộ phức hợp đai vai và có thể nói là toàn bộ chi trên.16 Mặt trước của XBV tựa vào mặt sau của lồng ngực tạo thành khớp bả vai – lồng ngực. Mặc dù khớp này không phải là một khớp giải phẫu thực sự, hay nói đúng hơn là giao diện giữa các xương. Trong đó, chuyển động của khớp bả vai – lồng ngực được liên kết chặt chẽ về mặt cơ học với hai khớp ức đòn (SC) và khớp cùng đòn (AC), về bản chất chính là sự liên kết giữa chuyển động của xương đòn và XBV.
Do đó, nếu có bất kỳ sự vận động hạn chế nào của một trong ba khớp này, thì hai khớp còn lại cũng sẽ bị ảnh hưởng. Trong đó, khớp SC chịu trách nhiệm chính cho phần lớn sự chuyển động của XBV, trong khi khớp AC hoạt động như một bộ phận điều chỉnh chuyển động hơn là một bộ phận tạo ra chuyển động của XBV. 6 nghỉ, XBV thường được định vị dựa vào bề mặt sau – ngoài của lồng ngực với hố ổ chảo, hướng về phía trước khoảng 30 – 450 so với mặt phẳng trán. Định hướng này được gọi là mặt phẳng xương bả vai.16 Do vị trí của lồng ngực phía trên, XBV nằm nghiêng trong so với mặt phẳng đứng dọc một góc khoảng 10 – 200 (Hình 1.15 Với vị trí giải phẫu như vậy của khớp bả vai - lồng ngực, tạo cơ sở cho sự vận động của khớp ổ chảo – cánh tay.
Thuật ngữ “chuyển động khớp vai” mô tả các chuyển động kết hợp của cả khớp ổ chảo – cánh tay và khớp bả vai - lồng ngực. Vị trí tương quan các xương của phức hợp vai “Nguồn: Houglum PA, Bertoti DB, 2011” 15 1. Vị trí và vận động của khớp ức đòn Khớp ức đòn (SC) là một khớp nối phức tạp, liên quan đến đầu trong xương đòn, mặt khớp xương đòn trên xương ức và bờ trên của sụn sườn thứ nhất.16 Hơn hết, khớp SC là khớp duy nhất hoạt động như một thanh chống để kết nối trực tiếp xương chi trên với hệ thống xương trục. Với cấu tạo giải phẫu là một khớp bán yên phức tạp (đầu trong của xương đòn thường lồi theo đường kính dọc và hơi lõm theo đường kính ngang của nó, theo đó mặt khớp xương đòn thường có hình dạng đối ứng, với đường kính dọc hơi lõm và đường kính ngang hơi lồi), giúp tạo nên ba cặp vận động của khớp SC, bao gồm: nâng lên/ hạ xuống, đưa ra trước/ đưa ra sau, xoay trước/ xoay sau.
Các cặp vận động của khớp SC “Nguồn: Houglum PA, Bertoti DB, 2011” 15 Vận động nâng lên/ hạ xuống thường xảy ra song song với mặt phẳng trán, theo trục dọc thuộc đường kính dọc của khớp SC, với tầm vận động tối đa lần lượt là 45⁰ và 10⁰. Vận động đưa ra trước/ đưa ra sau ngược lại thường xảy ra xung quanh trục trước sau thuộc đường kính ngang của khớp SC, với biên độ vận động tối đa trong khoảng 15 – 300 ở cả hai hướng vận động. Cuối cùng, vận động xoay trước / xoay sau thực hiện quanh trục trong-ngoài của xương đòn. Khi gấp hoặc dạng vai quá đầu, mặt trước xương đòn sẽ xoay ra sau 20 – 350.
Khi hạ tay xuôi theo thân mình, khớp SC sẽ xoay trước về vị trí ban đầu. Vị trí và vận động của khớp cùng đòn Khớp cùng đòn (AC) nằm giữa đầu ngoài xương đòn và mỏm cùng vai của XBV, nó là một khớp hoạt dịch, nhưng có cấu hình phẳng.