CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA BỆNH VIỆN 1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP Khái niệm bệnh viện công lập Bệnh viện: Là một cơ sở khám và điều trị bệnh hợp pháp được Nhà nước công nhận và: Có khả năng và phương tiện chẩn đoán bệnh, điều trị và phẫu thuật; Có điều kiện thuận lợi cho việc điều trị bệnh và có hệ thống theo dõi sức khỏe hàng ngày cho các bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú. Không phải là nơi để an dưỡng phục hồi sức khỏe hoặc là một nơi đặc biệt chỉ có mục đích duy nhất là phục vụ cho người già, dưỡng lão hoặc giúp đỡ cai nghiện rượu, thuốc phiện, ma túy hoặc để điều trị rối loạn tâm thần, điều trị bệnh phong hoặc là nơi điều trị suối khoáng, xông hơi, massage [16]. Bệnh viện công lập: “Là tổ chức do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật. BVCL có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn KCB” [16].
Đặc điểm bệnh viện công lập Là tổ chức hoạt động phục vụ cho toàn xã hội, không vì mục đích lợi nhuận của đơn vị. Sản phẩm mang lại là lợi ích chung và bền vững, và phải gắn với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Hoạt động phải luôn gắn liền và chịu sự chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước. 8 Phân loại bệnh viện công lập Phân loại theo tuyến: Bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh và tuyến trung ương.
Phân hoại theo hoạt động sự nghiệp: Đơn vị có thu tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên và đầu tư; Đơn vị có thu tự bảo đảm được kinh phí hoạt động thường xuyên; Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên; Đơn vị có nguồn thu thấp hoặc không có thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách bảo đảm hoàn toàn [1], [2], [8].2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1.1 Một số khái niệm về tự chủ tài chính (TCTC) bệnh viện công lập Khái niệm về quản lý tài chính: “Là việc duy trì mức nợ lành mạnh và đảm bảo nguồn vốn cần thiết để tối đa hóa giá trị thu được từ các hoạt động”. Khái niệm về quản lý tài chính trong bệnh viện: “Là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nước về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện” [3], [29]. Khái niệm về tự chủ tài chính: “Là một trong những cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Các ĐVSN công được trao quyền tự quyết và tự chịu trách nhiệm về các khoản thu chi của đơn vị mình trong khuôn khổ pháp luật quy định”.
Khái niệm tự chủ tài chính bệnh viện công lập: “Bệnh viện được quyền quyết định và chịu trách nhiệm hoạt động của bệnh viện mình. Bệnh viện tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy và nhân sự, sử dụng các kết quả tài chính và ngược lại. Như vậy, mức độ TCTC quyết định các nội dung về thực hiện tự chủ của BV” [17].2 Vai trò, mục tiêu tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập Vai trò của TCTC đối với bệnh viện công lập BVCL giữ vai trò quan trọng trong công tác KCB, đảm bảo sức khỏe cơ bản cho người dân và phát triển của xã hội. BVCL luôn là một tổ chức đứng đầu ngành y tế, cung cấp DVKT mang tính chất phúc lợi xã hội.
Sự chênh lệch giữa các tầng lớp trong xã hội ngày càng tăng, các cơ sở y tế tư nhân hoạt động vì lợi nhuận thì vai trò của BV công càng được coi trọng. Các bệnh viện đi đầu trong việc tìm hiểu và phát triển các phương pháp chẩn đoán, điều trị, kỹ thuật cao và đào tạo đội ngũ NVYT giỏi về chuyên môn. Thực hiện TCTC giúp cho các BVCL nâng cao chất lượng KCB góp phần vào mục tiêu phúc lợi xã hội và đóng góp nhất định vào NSNN [11]. Mục tiêu của cơ chế TCTC đối với bệnh viện công lập Giao quyền TCTC cho đơn vị trong tổ chức hoạt động và sắp xếp bộ máy, nguồn tài chính để hoàn thành nhiệm vụ.
Phát huy được nguồn lực của mình để cung cấp dịch vụ chất lượng, tăng thu cho bệnh viện và thu nhập cho nhân viên. Từ đó phát huy được tính sáng tạo và năng động của từng nhân viên trong đơn vị. Thu hút được nguồn lực của xã hội, từng bước giảm dần phụ thuộc vào NSNN. TCTC nhưng Nhà nước củng phải quan tâm đầu tư phát triển; phải bảo đảm chế độ cho các đối tượng chính sách, dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Kết hợp hài hòa giữa cơ chế quản lý Nhà nước với vận động của các BVCL trong lĩnh vực tài chính [11].3 Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính Tự chủ trong quản lý các nguồn thu Nguồn thu của bệnh viện: Thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ; thu theo pháp luật về phí và lệ phí được để lại và chi theo quy định; thu khác (nếu có) theo quy định của pháp luật; NSNN cấp cho các công việc không thường xuyên; Vốn vay, nguồn viện trợ và tài trợ theo quy định. Nội dung về tự chủ các mức thu, khoản thu: Có quyền quyết định một số mức thu phù hợp với từng loại hoạt động và từng đối tượng. Tuy nhiên, quyền quyết định đó vẫn phải tuân thủ theo các quy định về phí, lệ phí của Nhà nước. Đối với các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được thực hiện theo cơ chế đặt hàng bởi cơ quan Nhà nước thì mức thu do Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Trường hợp chưa có giá thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận. Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, liên doanh liên kết (LDLK), huy động nguồn lực XHH, thì bệnh viện quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể và bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy. Tự chủ trong quản lý các nguồn chi Chi đầu tư: Từ quỹ phát triển, vốn vay và nguồn tài chính hợp pháp khác (Áp dụng đối với ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên và đầu tư): Theo nhu cầu và khả năng của mình, đơn vị chủ động xây dựng danh mục đầu tư và báo với cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đang triển khai theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Đơn vị quyết định quy mô, phương án, mức và nguồn vốn, thời gian thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư. 11 ĐVSN công được vay vốn lãi suất ưu đãi của Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng theo quy định. Chi thường xuyên: Đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính được giao tự chủ để chi thường xuyên như sau: “Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển”: Tiền lương: Chi theo ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với ĐVSN công. Khi mức lương cơ sở được điều chỉnh, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu NSNN cấp bổ sung.
Chi hoạt động chuyên môn, quản lý: Theo quy định Khoản chi có định mức: Dựa vào khả năng tài chính của mình đơn vị được quyết định mức chi cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong QCCTNB của đơn vị. Khoản chi chưa có định mức: Theo tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo QCCTNB và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trích khấu hao tài sản cố định. Tiền trích khấu hao tài sản hình thành từ nguồn NSNN hoặc có nguồn gốc từ ngân sách được hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (HĐSN).
“Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được kinh phí hoạt động thường xuyên; và đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên”: Tiền lương: Chi theo ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định. Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương cơ sở, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, NSNN cấp bổ sung. 12 Chi hoạt động chuyên môn, quản lý: Dựa vào nhiệm vụ và khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Khoản chi không thường xuyên: Phải thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về mức và định mức chi.
Phân phối kết quả tài chính trong năm: Sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng như sau: “Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển”: Trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tối thiểu 25%; Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập: Đơn vị được tự quyết định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập; Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị; Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật; Phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. “Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được kinh phí hoạt động thường xuyên”: Phân phối kết quả tài chính trong năm theo quy định như đối với ĐVSNCL tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển.