phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực cho tổ trưởng chuyên môn ở trường trung học phổ thông Chƣơng 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cho tổ trưởng chuyên môn ở trường trung học phổ thông Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực cho tổ trưởng chuyên môn ở trường trung học phổ thông Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC CHO TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề Xu thế đổi mới giáo dục đang đặt ra những yêu cầu mới cho người CBQL. Rõ ràng, không thể phủ nhận vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ CBQL nói chung, người TTCM nói riêng trong công tác quản lý nhà trường.
Trong m i nhà trường, hoạt động TCM là một hoạt động quan trọng. Nâng cao chất lượng hoạt động TCM chính là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường. Để thực hiện tốt mục tiêu trên thì việc bồi dưỡng năng lực quản lý cho TTCM là một yêu cầu cấp bách và cần thiết. Vấn đề bồi dưỡng năng lực cho TTCM đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đình Chỉnh, Hà Sỹ Hồ, Trần Bá Hoành, Trần Kiểm.
Riêng vấn đề bồi dưỡng năng lực cho TTCM được một số tác giả như: Đ Ngọc Bích, Trần Minh Hằng, Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Nguyễn Văn Lê. đề cập đến trong các tạp chí, kỷ yếu hoặc được đề cập đến trong một số luận văn thạc sĩ: - “Biện pháp bồi dưỡng năng lực cho tổ trưởng chuyên môn trường Trung học cơ sở huyện Cư Kuin, tỉnh Đắc Lắc” của Trần Kim Bình (2009). - “Quản lý bồi dưỡng năng lực cho TTCM của hiệu trưởng trong các trường THPT trên địa bàn Đông Hà, tỉnh Quảng Trị” của Đ Văn Trọng (2010). - “Biện pháp bồi dưỡng năng lực cho TTCM trường THPT thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” của Lê Sĩ Hải (2012).
Nhìn chung, các tài liệu này hoặc chỉ đề cập vấn đề một cách khái quát, hoặc là không phải là tài liệu tập trung viết về bồi dưỡng năng lực cho TTCM mà chỉ đề cập đến khi có liên quan. Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất về vai trò rất quan trọng và việc cần thiết phải nâng cao năng lực cho TTCM coi như là một giải pháp then chốt trong việc đổi mới quản lý chuyên môn trong các trường học. Ở trường THPT Cổ Loa, vấn đề bồi dưỡng năng lực cho TTCM được HT nhà trường quan tâm song chỉ tồn tại những kinh nghiệm rải rác trên các sáng kiến kinh nghiệm hoặc báo cáo tổng kết của nhà trường. Như vậy, cho đến nay, theo những tài 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liệu mà chúng tôi có được, vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực cho TTCM trường THPT một cách đầy đủ và hệ thống.
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, tạo bước đột phá trong quản lý nhà trường hiện nay, chúng tôi muốn góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng năng lực cho TTCM trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cho TTCM ở trường THPT Cổ Loa và trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý khả thi giúp HT quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho TTCM ở trường THPT Cổ Loa, Hà Nội. Một số khái niệm và thuật ngữ 1. Năng lực Năng lực là một khái niệm cơ bản của tâm lý học. Năng lực của ĐNCB là nguồn lực vô giá trong công cuộc CNH - HĐH hiện nay của đất nước ta.
Với một lĩnh vực được coi là Quốc sách hàng đầu, là chìa khóa của sự phát triển như GD thì năng lực của đội ngũ CBQL giáo dục các cấp càng trở lên đặc biệt quan trọng. Kôvaliôp: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính cá nhân của con người đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao” [17, tr. Theo Đ Hoàng Toàn: “Năng lực là những thuộc tính tâm lý của cá nhân giúp con người lĩnh hội một lĩnh vực kiến thức hoặc hoạt động nào đấy được dễ dàng và nếu họ tiến hành hoạt động trong lĩnh vực đó thì sẽ có kết quả cao” [30]. Qua các quan niệm trên ta thấy nổi lên mấy điểm sau về năng lực: - Năng lực của con người là những thuộc tính tâm lý.
Nó đảm bảo cho họ đạt được kết quả cao đối với từng dạng hoạt động nhất định. Điều này có nghĩa là khi quản lý cán bộ phải sử dụng đúng người, đúng việc mới cho hiệu quả cao. Đồng thời phải thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực để đội ngũ CBQL ngày càng đáp ứng tốt hơn. - Năng lực có liên quan đến yếu tố di truyền, bộc lộ và phát triển thông qua hoạt động.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục khi định hướng phát triển nhân cách cũng như trong việc tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi làm nảy nở, phát triển năng lực ở cá nhân. - Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là những thành phần cơ bản giúp tạo nên năng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đây chính là cơ sở khoa học cho phép xây dựng những chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển, nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ CBQL nói riêng. Vì vậy, việc nâng cao năng lực cho TTCM có quan hệ mật thiết đến việc bồi dưỡng hệ thống kiến thức, kỹ năng quản lý và tạo điều kiện thuận lợi để TTCM toàn tâm toàn ý cho hoạt động của mình.
Năng lực quản lý * Quản lý Trong quá trình phát triển của xã hội, bất cứ một lao động xã hội nào, một cơ sở, tổ chức thực hiện có quy mô từ mức độ thấp đến cao đều cần có sự tổ chức và điều khiển lao động để đạt được các mục đích mà con người mong muốn. Dạng lao động mang tính đặc thù tổ chức - điều khiển các hoạt động theo những tiêu chí, yêu cầu, quy định cụ thể gọi là quản lý. Quản lý thường xuyên biến đổi, phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, có vai trò quan trọng trong đời sống con người, tồn tại trong mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. - Nếu xét từ tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn nhân lực, có thể coi quản lý là việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
- Nếu nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất của quản lý là các quyết định, có thể quan niệm quản lý là đưa ra các quyết định đúng. - Nếu khẳng định mục đích, mục tiêu rõ ràng, có thể hiểu quản lý là làm cho mọi việc được thực hiện Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Hoạt động quản lý được coi là kinh điển nhất được hiểu là “quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [25, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đã đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng mới” [2] Từ rất nhiều định nghĩa dưới các góc độ khác nhau, chúng ta có thể hiểu khái quát về quản lý: Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích đề ra.
Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn tự giác, phấn khởi đem hết năng lực, trí tuệ của mình tạo nên lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. * Năng lực quản lý Năng lực quản lý là những đặc điểm tâm lý của nhân cách giúp cho người quản lý dễ dàng thực hiện được hoạt động quản lý có kết quả cao. Năng lực quản lý có quan hệ với kiến thức, kỹ năng quản lý. Năng lực quản lý liên quan chặt chẽ đến những phẩm chất nhân cách của người quản lý như: Trình độ, tầm nhìn, khả năng thiết kế, óc sáng tạo thực tiễn, khả năng tổ chức điều khiển, khả năng giao tiếp, thuyết phục cảm hóa con người.
Năng lực quản lý thể hiện tập trung trong việc thực hiện toàn bộ chu trình quản lý, từ việc hoạch định, đến việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra - đánh giá (KT-ĐG). Đối với m i lĩnh vực quản lý nhất định thì kỹ năng thực hiện những chức năng quản lý có những nội dung nhất định gắn liền với đặc thù của dạng hoạt động đó. Năng lực quản lý hình thành trong quá trình chủ thể thực hiện hoạt động quản lý. Trong quá trình này nảy sinh những thuộc tính mới cần thiết cho sự thành công của hoạt động quản lý, đồng thời làm xuất hiện những phẩm chất thay thế cho những thuộc tính tự nhiên chưa hoàn thiện ở chủ thể quản lý.
Hay nói cách khác, thông qua hoạt động quản lý hình thành những cơ chế bù trừ làm cho chủ thể quản lý phát triển được những thuộc tính tâm lý phù hợp hơn cho hoạt động của mình. Những điều này nói lên rằng có thể và cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý thông qua chính quá trình thực hiện các khâu của qui trình quản lý. Bồi dưỡng năng lực Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng năng lực được hiểu như sau: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó.