Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm định chất lượng dạy nghề; Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường nghề; Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường nghề. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG DẠY NGHỀ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Chất lượng và Kiểm định chất lượng 1.
Những quan điểm về chất lượng, chất lượng dạy nghề - Quan điểm về chất lượng: Chất lượng là một khái niệm rộng và đa nghĩa, các ý nghĩa của nó có khi trái ngược nhau. Trước đây người ta hiểu chất lượng theo quan niệm “tĩnh” có nghĩa là “chất lượng phụ thuộc vào mục tiêu”; ngày nay hiểu chất lượng theo quan niệm “động”, có nghĩa là “chất lượng là một hành trình, không phải là điểm dừng cuối cùng mà là đi tới”. Rất khó để xác định chính xác những gì có nghĩa là chất lượng trong giáo dục đại học. Theo Harvey và Green (1993), "chất lượng" trong giáo dục đại học là một khái niệm "trơn" và "khó nắm bắt".
Điều này phù hợp với nhận xét trích dẫn phổ biến trong các cuộc thảo luận về chất lượng mà "chất lượng. bạn biết nó là gì, nhưng bạn không biết nó là gì" (Pirsig, năm 1974). Trong một nghiên cứu gần đây, Katiliute và Neverauskas (2009) nhấn mạnh rằng "chất lượng" trong giáo dục đại học thậm chí có thể khó khăn hơn để xác định hơn trong hầu hết các lĩnh vực khác. Quan điểm này cũng có thể được tìm thấy trong Sổ tay mang tên "Một bản đồ đường đến chất lượng: Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học" do Hội đồng Đại học của Inter cho Đông Phi - IUCEA (2007).
Nó được giải thích trong Cẩm nang rằng khi chúng ta nói về chất lượng của một sản phẩm hay chất lượng của dịch vụ , định nghĩa thường được sử dụng là sự hài lòng của khách hàng, nhưng trong giáo dục đại học, nó không phải là luôn luôn rõ ràng những gì các sản phẩm và người khách hàng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa “chất lượng” được sử dụng rộng rãi trong quản lý chất lượng [2], như: “chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng'' (Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu – EOQC); “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc” (ISO 9000- 2000); “Chất lượng là sự đáp ứng với mục tiêu đề ra” (Tiêu chuẩn quản lý chất lượng Anh). Theo cách định nghĩa này, các cơ sở đào tạo được phép hoạt động để đạt được những mục tiêu đề ra trong mục tiêu nhiệm vụ của mình. Điều đáng lưu ý ở đây là chính khái niệm này đã làm đa dạng hoá các loại hình các tổ chức giáo dục đào tạo và dạy nghề nhằm thoả mãn nhiều hơn nữa nhu cầu học tập suốt đời của mọi đối tượng, mọi thành viên trong xã hội.
- Quan niệm về chất lượng dạy nghề Đạt đƣợc. mục tiêu đề ra Yêu cầu của các Chƣơng bên liên quan: trình đào tạo 1. Chính phủ 2. Nhà tuyển dụng Yêu cầu 3.
Xã hội đƣợc chuyển Nghiên Chấ t thành mục cứu lƣơ ̣ng 4. Ngƣời học tiêu Dịch vụ Cộng đồng Hình 1. Sơ đồ mối quan hệ chất lượng đáp ứng mục tiêu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy nghề nói riêng là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm vì tầm quan trọng hàng đầu của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, sự nghiệp phát triển giáo dục nói riêng. Mọi hoạt động giáo dục, dạy nghề được thực hiện đều hướng tới mục đích góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục.
Một nền giáo dục ở bất kì quốc gia nào bao giờ cũng phải phấn đấu để trở thành một nền giáo dục chất lượng cao. Trong hệ thống đào tạo cũng như hệ thống dạy nghề, chất lượng là vấn đề trừu tượng, phức tạp, đa chiều. Đối với các cơ sở dạy nghề (CSDN) thì chất lượng chính là thương hiệu, là lý do để tồn tại, để cạnh tranh và để phát triển trong môi trường đào tạo đầy biến động. Trong quản lý dạy nghề thì chất lượng đào tạo phải được đánh giá và kiểm định; không phải ngẫu nhiên mà người ta khẳng định rằng: “Quản lý chất lượng dạy nghề sẽ là cách quản lý mới trong tương lai - trong đó kiểm định chất lượng dạy nghề (KĐCLDN) giữ vai trò cực kỳ quan trọng”.
Chất lượng dạy nghề không thể xác định và không thể đánh giá được ngay; chất lượng của CSDN chỉ có thể được xác định qua nhiều năm. Chất lượng chỉ có thể biết được khi những người tốt nghiệp ra trường có việc làm và làm được việc. Kiểm định chất lượng trong đào tạo Để đảm bảo chất lượng của hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề cần phải xây dựng một hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu hành động, công cụ, quy trình và thủ tục,. Điều quan trọng là thông qua việc vận hành hệ thống đó trong hoạt động thực tiễn có thể đảm bảo rằng mục tiêu và nhiệm vụ đang được thực hiện, các chuẩn mực đang được duy trì và từng bước nâng cao.
Như vậy đảm bảo chất lượng đề cập đến cách tiếp cận và các biện pháp được sử dụng để nâng cao chất lượng đào tạo. Với vai trò của mình, đảm bảo chất lượng đem lại lợi ích cho cả quốc gia cũng như cộng đồng tham gia vào hoạt động giáo dục đào tạo và dạy nghề. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong vòng hơn mười năm trở lại đây, số lượng các quốc gia thực hiện biện pháp đảm bảo chất lượng như một cách thức đánh giá chất lượng đào tạo đã tăng đáng kể (khoảng 60 quốc gia). Hoạt động đảm bảo chất lượng trở thành công cụ được sử dụng hết sức rộng rãi để đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cũng như cung cấp cho chính phủ, những nhà đầu tư trong ngành giáo dục đào tạo và dạy nghề, người học và các nhà tuyển dụng những thông tin quan trọng về chất lượng đào tạo của từng cơ sở đào tạo cụ thể nói riêng và thông tin tương đối toàn diện về chất lượng của cả hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề nói chung.
Hoạt động đảm bảo chất lượng bao gồm những hình thức chủ yếu sau: - Đánh giá chất lượng (Quality Assessment); - Kiểm toán chất lượng (Quality Audit); - Kiểm định chất lượng (Accreditation). Trong 03 hình thức trên, KĐCL được sử dụng rộng rãi và hữu hiệu nhất ở các nước trong khu vực và trên thế giới khi phục vụ mục đích phát triển và xây dựng năng lực cho một cơ sở đào tạo và cho cả hệ thống. KĐCL là quy trình được sử dụng ở hệ thống giáo dục, đào tạo và dạy nghề đã và đang phát triển. Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, hoạt động KĐCL đã được thực hiện tại các quốc gia như: Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Mông Cổ, Philippin, Việt Nam, và Thái Lan.
KĐCL được chọn lựa triển khai trong suốt thập kỉ qua, thông qua nhiều dự án giáo dục đại học và đào tạo nghề của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Châu Á (ADB).tại Rumani, Hunggary, Trung Quốc, Áchentina, Chi Lê, Việt Nam, Campuchia và một số quốc gia khác. Theo Terry - 2005, KĐCL là: + Một hình thức để đảm bảo chất lượng mang tính hệ thống; + Tập trung vào vấn đề chất lượng và trách nhiệm đối với xã hội; + Dựa trên các tiêu chuẩn KĐCL; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Tự đánh giá; + Đánh giá ngoài; + Báo cáo của đoàn đánh giá ngoài; + Công nhận đạt chất lượng; + Từng bước tạo nên thay đổi tích cực; + Trợ giúp xây dựng “Nền văn hoá chất lượng”,. Mặc dù một số quốc gia tuyên bố rằng họ có thể xếp hạng công khai các CSĐT (theo số hoặc theo hạng) mà không cần quan tâm đến hậu quả của việc xếp hạng đó, nhưng nhìn chung có xu hướng nên tránh việc xếp hạng bởi nó gây tác hại tới sự phát triển lâu dài của một hệ thống và một CSĐT. Ngoài ra có tình trạng tại một số quốc gia, các CSĐT được xếp ở thứ hạng cao dựa trên lịch sử hình thành và vẫn tiếp tục duy trì ở vị trí đó mà không cần xem xét đến những đánh giá chất lượng khách quan hiện tại của nó.
Tránh việc xếp hạng CSĐT không có nghĩa là không xếp cấp độ hay mức độ kiểm định. Một số hệ thống dạy nghề đã áp dụng ít nhất 3 mức độ kiểm định: - Đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng: Thời gian quy định thường có giá trị ít nhất 3 năm và không quá 7 đến 10 năm; thông thường thời gian có giá trị trong 5 năm là hợp lý đối với hầu hết các hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề; - Có khả năng được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định: Thời gian được công nhận đạt tiêu chuẩn ngắn hơn so với mức trên và trong thời gian thử thách, những điểm yếu còn tồn tại của CSĐT/CTĐT cần phải được tập trung giải quyết; - Không đạt tiêu chuẩn kiểm định: Thường có nghĩa là CSĐT/CTĐT cần đăng kí kiểm định lại sau một thời gian nhất định; nếu tiếp tục không đạt phải chấm dứt hoạt động của CSĐT/CTĐT đó (hiện tại, ở Việt Nam chưa áp dụng chế tài này). 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kiểm định chất lượng dạy nghề; 1.
Khái quát Các điều kiện kiểm soát chất lượng dạy nghề, gồm: Thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy nghề; Kiểm định chất lượng dạy nghề. Các chính phủ trong hầu hết các nước đã thiết lập quy trình đảm bảo chất lượng bên ngoài (EQA) để đảm bảo chất lượng của các tổ chức giáo dục đại học của họ (Carr, Hamilton, và Meade, 2005; Shah, Nair, và Standford, 2011). Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng về tác động thực tế hoặc hiệu quả của các quy trình (Banji, 2010; Carr, Hamilton, và Meade, 2005; Skolnik, 2010; Shah, Nair, và Standford, 2011; Stensakera, Langfelt, Harvey, Ông Huisman phát biểu , và Westerheijen, 2011). Trong nghiên cứu của họ, Stensakera et al.