Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở Giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Do đặc điểm của nghề nghiệp, GV cần phải thường xuyên được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Vấn đề đặt ra ở đây là việc quản lý hoạt động BD CM cho GV phải đạt yêu cầu đề ra, sao cho thật hiệu quả để GV luôn đảm bảo vai trò nòng cốt trong hoạt động dạy học ở nhà trường.
Nghiên cứu ở nước ngoài Các nước trên thế giới luôn chú trọng đến hoạt động BD CM cho GV, xem đó là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Các cấp quản lý giáo dục tạo điều kiện thuận lợi cho GV có cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Dưới đây là hoạt động bồi BD CM cho GV ở một số nước trên thế giới: Đào tạo, BD CM cho GV ở Hàn Quốc: Chương trình đào tạo chứng chỉ: khi giảng viên chuyển bậc chứng chỉ, họ được học 30 ngày tại viện giáo dục quốc gia để thi nhận chứng chỉ mới; Đào tạo chung: giảng viên được 10 ngày/năm để học cập nhật kiến thức mới; Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ dành cho phó giảng viên chính trở lên; Chương trình bồi dưỡng đặc biệt: đây là chương trình thời hạn từ 2 đến 3 năm do Bộ giáo dục tổ chức để nâng cao kiến thức trong những lĩnh vực đặc biệt; Tham quan nước ngoài: giảng viên được dành 10 đến 12 ngày để đi tham quan nước ngoài nhằm mở rộng hiểu biết và nâng cao trình độ. Giáo viên ở Đài Loan được tuyển chọn và đào tạo tốt, lại được tái đào tạo và bồi dưỡng liên tục.
Có nhiều trung tâm đào tạo nâng cao tại chức nhằm cập nhật kiến thức và huấn luyện GV thực hiện những chính sách về cải cách giáo dục, giúp họ không ngừng phát triển, không ngừng trưởng thành. Những trung tâm này có nhiệm vụ cung cấp thông tin và tài liệu tham khảo về giáo dục và quản lý giáo dục, tạo ra một cơ chế để trao đổi thông tin giữa các nhà giáo dục và những người lãnh đạo giáo dục, những người hoạch định chính sách ở các địa phương; khuyến khích 8 GV học tập suốt đời và không ngừng cải thiện việc dạy học. Nó cũng đem lại cho GV những tư vấn và hỗ trợ cần thiết trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể của giáo dục trong đời sống hàng ngày. Hoạt động của các trung tâm này phục vụ đắc lực cho cải cách giáo dục và làm cho giáo dục trở nên theo sát các nhu cầu thực tế của địa phương, cũng như giúp GV thực hiện vai trò của mình một cách tốt nhất.
Một đặc điểm trong đào tạo theo hệ thống cấp chứng chỉ dạy học ở Nhật Bản là thời gian cho sinh viên thực tập tại các trường phổ thông là không nhiều. Trong bồi dưỡng GV, Nhật Bản chú trọng việc bồi dưỡng trực tiếp tại các trường phổ thông với sự tham gia của giảng viên đến từ các trường đại học, các GV có trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm. Kinh nghiệm của Malaysia trong phát triển chuyên môn cho GV theo Ngô Vũ Thu Hằng chia sẻ trong tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế “Kinh nghiệm của Malaysia và Singapore về đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông, CBQL các cơ sở giáo dục phổ thông và giảng viên sư phạm” do Trường ĐHSP Hà Nội tổ chức. Theo Ngô Vũ Thu Hằng, để nâng cao hoạt động bồi dưỡng, Malaysia chú trọng thực hiện các hoạt động sau: “.; Các khóa học về quản lí giáo dục được thiết kế dành cho những người điều hành và lãnh đạo nhà trường; Các khóa học bồi dưỡng GV tài năng; Chương trình phát triển chuyên môn kéo dài 14 tuần dành cho GV; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cấp chứng chỉ kéo dài 1 năm”.
Điểm nổi bật và cũng là kinh nghiệm quý cho nhiều nước trong bồi dưỡng và phát triển năng lực nghề cho GV của Singapore là hoạt động BD xuất phát từ nhu cầu nâng cao tay nghề, phát triển nghề nghiệp của GV và gắn với hoạt động thực tiễn của họ thông qua các hình thức hoạt động đa dạng: BD tại chỗ (tại trường phổ thông); BD thông qua nghiên cứu cải tạo thực tiễn, thông qua hoạt động nghiên cứu bài học và thông qua sinh hoạt chuyên môn của cộng đồng GV, cũng như qua nhiều hình thức BD khác với mục tiêu phát triển năng lực GV liên tục, bền vững. Cùng nằm trong khối ASEAN, Singapore và Malaysia có nhiều điểm tương đồng trong phát triển nghề nghiệp GV (Bộ Giáo dục quản lí toàn bộ hoạt động đào tạo và bồi dưỡng; Chính phủ hai nước đều đặt mục tiêu nâng cao chất lượng GV thông qua việc tạo cơ hội học thêm, lương thưởng, đãi ngộ; Tập trung vào đào tạo GV từ giai đoạn ban đầu), giáo dục nói chung và đào tạo, bồi dưỡng GV nói riêng của hai nước trong hơn 50 năm qua đã có những thành tựu lớn với những bước phát 9 triển vượt bậc. Đó là do sự nỗ lực của Chính phủ hai nước trong việc đề ra sách lược, tầm nhìn, xây dựng triết lí giáo dục và sự mạnh dạn đầu tư cho giáo dục, cho đào tạo và phát triển nghề nghiệp GV. Tại Liên Xô (cũ) nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Komenxki đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả.
Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn. Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho đội ngũ giáo viên. Tóm lại, các nước trên thế giới cũng có những chương trình đào tạo, BD CM cho GV theo mục tiêu chung của từng quốc gia. Vì vậy mà công tác quản lý hoạt động BD CM mỗi quốc gia cũng hướng tới mục tiêu chung nhằm đáp úng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo từng giai đoạn cụ thể.
Nghiên cứu ở trong nước Ngày 22 tháng 8 năm 2018 Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT về việc ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp GV cơ sở giáo dục phổ thông. Văn bản này quy định chuẩn nghề nghiệp GV bao gồm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quy trình đánh giá xếp loại GV, quy định này áp dụng đối với mọi loại hình GV tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng GV như: GS. Phạm Minh Hạc, GS.
Đặng Vũ Hoạt, PGS. Đặng Quốc Bảo, PGS.TS Trần Kiểm. Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề liên quan đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng GV, cụ thể: Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Nguyễn Văn Diệu năm 2011 với đề tài “Thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng giáo viên của Hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh”. Đề tài đề ra các biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL và GV về hoạt động bồi dưỡng GV, điều chỉnh mục tiêu, phát triển chương trình, đổi mới phương pháp, phương tiện và cải tiến các hình thức bồi dưỡng GV THCS (Nguyễn Văn Diệu, 2011).
10 Luận văn thạc sĩ Giáo dục học năm 2013 của Trần Thị Hồng Phượng với đề tài “Xây dựng quy trình quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tại các trường THCS huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”. Đề tài khảo sát thực trạng hoạt động bồi dưỡng GV và quản lý hoạt động bồi dưỡng GV từ đó đề tài đề xuất xây dựng quy trình quản lý hoạt động bồi dưỡng GV nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV tại các Trường THCS huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (Trần Thị Hồng Phượng, 2013). Luận văn thạc sĩ Giáo dục học năm 2014 của Nguyễn Thị Ánh Thu với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường THPT thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương”. Đề tài đề cập đến các giải pháp như nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng GV, đổi mới hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GV THPT (Nguyễn Thị Ánh Thu, 2014).
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục năm 2018 của Nguyễn Thị Thùy Dung với đề tài “Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh đổi mới giáo dục”. Đề tài khảo sát thực trạng quản lý đội ngũ GV tại các trường THCS và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ GV ở các trường THCS (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2018). Tóm lại, về đề tài nghiên cứu: Tại trường ĐH Thủ Dầu Một trong những năm qua, trong các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về QLGD có đề cập đến công tác bồi dưỡng đội ngũ GV nói chung nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu đề cập đến công tác quản lý hoạt động BD CM cho GV THCS. Như vậy nghiên cứu về quản lý hoạt động BD CM cho GV THCS là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định, dạng lao động mang tính đặc thù đó còn được gọi là hoạt động quản lý.