Luận văn thạc sĩ về quan hệ Việt Nam - Cuba (1960-1975) và vai trò của Đảng lãnh đạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển quan hệ việt nam với cuba 1960 1975, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Lịch Sử

2013

161
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO THIẾT LẬP QUAN HỆ VIỆT NAM ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VỚI CÁCH MẠNG CUBA TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1965

1.1. Những yếu tố tác động tới việc thiết lập quan hệ Việt Nam với Cuba

1.2. Sự tương đồng về mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng hai nước

1.3. Bối cảnh quốc tế và chủ nghĩa quốc tế vô sản

1.4. Đường lối đối ngoại của Đảng và chủ trương thiết lập, củng cố quan hệ đoàn kết chiến đấu với cách mạng Cuba

1.4.1. Đường lối đối ngoại của Đảng

1.4.2. Chủ trương thiết lập, củng cố quan hệ đoàn kết chiến đấu với cách mạng Cuba

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM VỚI CUBA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975

2.1. Yêu cầu khách quan và điều kiện chủ quan để phát triển quan hệ Việt Nam với Cuba trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ

2.1.1. Yêu cầu khách quan để phát triển quan hệ Việt Nam – Cuba

2.1.2. Điều kiện chủ quan để phát triển quan hệ Việt Nam – Cuba trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ

2.2. Chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng tăng cường phát triển quan hệ Việt Nam với Cuba trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ

2.2.1. Những chủ trương, chính sách lớn

2.2.2. Những kết quả, thành tựu chủ yếu

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ 15 NĂM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1. Đánh giá chung về 15 năm xây dựng, phát triển quan hệ Việt Nam – Cuba

3.2. Những kinh nghiệm lịch sử

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan hệ Việt Nam Cuba giai đoạn 1960 1975

Quan hệ giữa Việt Nam và Cuba trong giai đoạn 1960-1975 là một minh chứng cho tinh thần đoàn kết quốc tế và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai quốc gia có chung mục tiêu cách mạng. Sự thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào năm 1960 đã mở ra một chương mới trong lịch sử hợp tác giữa hai nước. Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Cuba đã cùng nhau xây dựng nền tảng vững chắc cho mối quan hệ này, dựa trên những giá trị chung về chủ nghĩa xã hội và sự đấu tranh chống đế quốc. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, sự hợp tác này không chỉ mang lại lợi ích cho hai nước mà còn góp phần vào phong trào cách mạng thế giới.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính trị của Việt Nam và Cuba

Cuba và Việt Nam đều trải qua những giai đoạn lịch sử đầy thử thách, từ việc chống lại thực dân đến việc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sự tương đồng này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho mối quan hệ giữa hai nước. Cả hai quốc gia đều phải đối mặt với sự can thiệp của các thế lực bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, và đã tìm thấy sự đồng cảm trong cuộc chiến đấu vì độc lập và tự do.

1.2. Những yếu tố thúc đẩy quan hệ Việt Nam Cuba

Sự tương đồng về mục tiêu cách mạng, bối cảnh quốc tế và sự hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống đế quốc đã thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và Cuba. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thiết lập quan hệ với Cuba, không chỉ để nhận được sự hỗ trợ về chính trị mà còn về kinh tế và quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

II. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thiết lập quan hệ với Cuba 1960 1965

Giai đoạn từ 1960 đến 1965 là thời kỳ quan trọng trong việc thiết lập và củng cố quan hệ Việt Nam - Cuba. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ động xây dựng các chính sách đối ngoại nhằm tăng cường mối quan hệ này. Sự kiện thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1960 đã đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ hai nước, mở ra cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực.

2.1. Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn này tập trung vào việc thiết lập quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Cuba. Đảng đã xác định rõ tầm quan trọng của việc củng cố mối quan hệ với Cuba như một phần trong chiến lược đối ngoại tổng thể.

2.2. Các hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam và Cuba

Trong giai đoạn này, nhiều hoạt động ngoại giao đã diễn ra giữa hai nước, bao gồm các chuyến thăm cấp cao, hội nghị quốc tế và các thỏa thuận hợp tác. Những hoạt động này không chỉ củng cố mối quan hệ mà còn tạo điều kiện cho việc trao đổi kinh nghiệm trong công cuộc xây dựng đất nước.

III. Phát triển quan hệ Việt Nam Cuba trong cuộc đấu tranh chống Mỹ 1965 1975

Giai đoạn từ 1965 đến 1975 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam - Cuba, đặc biệt trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo việc tăng cường hợp tác với Cuba, không chỉ về mặt chính trị mà còn về quân sự và kinh tế.

3.1. Sự hỗ trợ quân sự và kinh tế từ Cuba

Cuba đã cung cấp nhiều hỗ trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sự giúp đỡ này không chỉ thể hiện tình đoàn kết mà còn góp phần quan trọng vào thành công của cuộc kháng chiến.

3.2. Tác động của quan hệ Việt Nam Cuba đến phong trào cách mạng thế giới

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba đã tạo ra một ảnh hưởng tích cực đến phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là trong các nước Mỹ Latinh. Sự hợp tác này đã trở thành một biểu tượng cho tinh thần quốc tế vô sản và sự đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức.

IV. Kết quả và thành tựu trong quan hệ Việt Nam Cuba 1960 1975

Trong suốt giai đoạn 1960-1975, quan hệ Việt Nam - Cuba đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sự hợp tác giữa hai nước không chỉ giúp củng cố vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế mà còn tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế và xã hội.

4.1. Những thành tựu nổi bật trong hợp tác

Nhiều thành tựu nổi bật đã được ghi nhận trong hợp tác giữa Việt Nam và Cuba, bao gồm việc trao đổi kinh nghiệm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, hỗ trợ lẫn nhau trong các diễn đàn quốc tế và các dự án phát triển kinh tế.

4.2. Đánh giá tác động của quan hệ đến sự phát triển của hai nước

Mối quan hệ này đã có tác động tích cực đến sự phát triển của cả hai nước, giúp Việt Nam có thêm nguồn lực trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và giúp Cuba củng cố vị thế của mình trong khu vực Mỹ Latinh.

V. Kinh nghiệm lịch sử từ quan hệ Việt Nam Cuba

Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Cuba trong giai đoạn 1960-1975 không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử hai nước mà còn rút ra được nhiều bài học quý giá cho công tác đối ngoại hiện nay. Những kinh nghiệm này có thể áp dụng vào việc xây dựng và phát triển quan hệ quốc tế trong bối cảnh hiện đại.

5.1. Bài học về sự đoàn kết quốc tế

Sự đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa đã chứng minh rằng, trong bối cảnh khó khăn, sự hỗ trợ lẫn nhau là rất cần thiết để vượt qua thử thách. Điều này vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.

5.2. Kinh nghiệm trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược

Việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với các nước có cùng mục tiêu cách mạng là một trong những bài học quan trọng. Điều này giúp các quốc gia có thể hỗ trợ lẫn nhau trong việc phát triển kinh tế và bảo vệ độc lập.

VI. Tương lai của quan hệ Việt Nam Cuba

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Cả hai nước đều nhận thức rõ tầm quan trọng của việc duy trì và phát triển quan hệ này để đối phó với những thách thức mới.

6.1. Triển vọng hợp tác trong tương lai

Triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và Cuba trong tương lai rất sáng sủa, với nhiều lĩnh vực có thể phát triển như kinh tế, văn hóa và giáo dục. Cả hai nước đều có thể học hỏi lẫn nhau trong quá trình phát triển.

6.2. Vai trò của quan hệ Việt Nam Cuba trong bối cảnh quốc tế

Mối quan hệ này không chỉ có ý nghĩa đối với hai nước mà còn có tác động đến tình hình chính trị và kinh tế khu vực. Sự hợp tác giữa Việt Nam và Cuba có thể trở thành một mô hình cho các nước khác trong việc xây dựng quan hệ quốc tế.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển quan hệ việt nam với cuba 1960 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO THIẾT LẬP QUAN HỆ VIỆT NAM ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VỚI CÁCH MẠNG CU BA TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1965 1. Những yếu tố tác động tới việc thiết lập quan hệ Việt Nam với Cuba 1. Sự tương đồng về mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng hai nước Cách mạng Cuba Nằm ở khu vực Trung Mỹ, bao gồm các quần đảo trong vùng biển Ca-ri-bê, với diện tích 110 922km2. Cuba giống như hình một con cá sấu vươn mình từ cửa ngõ vịnh Mê-hi-cô ra Đại Tây Dương, án ngữ ở vị trí quan trọng chiến lược là cầu nối của các tuyến đường giao thông đường thủy và đường hàng không quốc tế giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ, giữa Trung Mỹ và châu Âu.

Chủ nhân nơi đây là những người da đỏ đã bị thực dân Tây Ban Nha tàn sát gần hết. Sau này, Cuba trở thành nơi hội tụ của nhiều nhóm người thuộc nhiều chủng tộc khác nhau (trắng, vàng, da đen…). Đến giữa thế kỷ XX, dân cư của quần đảo này chủ yếu là người da trắng, họ chiếm khoảng hơn 70% dân số. Lịch sử đất nước Cuba là lịch sử đấu tranh kiên cường bất khuất trong gần 500 năm kể từ khi quân đội thực dân Tây Ban Nha đặt chân xâm lược vùng đất này từ năm 1511, sau đó xác lập nền thống trị thực dân nô dịch, thống trị nhân dân ở đây.

Thực tiễn khắc nghiệt đó buộc nhân dân Cuba phải vùng lên đấu tranh bền bỉ giành lại nền độc lập, tự do cho mình. Tiêu biểu là cuộc “Chiến tranh 10 năm”(1868-1878) do Các-lôt Ma-nu-en đê Xê-xpê-đét lãnh đạo; cuộc “Chiến tranh nhỏ” (1879-1880) do A. Ma-xê-ô đứng đầu; đặc biệt là cuộc “Chiến tranh giành độc lập”(1895) do Hô-xê Mác-ti lãnh đạo. Khi cuộc chiến tranh chống ách đô hộ của thực dân Tây Ban Nha do Hô-xê Mác-ti lãnh đạo gần kết thúc thắng lợi, đến năm 1894, đế quốc Mỹ chiếm Cuba, gạt ảnh hưởng và quyền lợi của Tây Ban Nha ra khỏi khu vực.

Cuba cũng như số phận của các nước khác thuộc khu vực Mỹ Latinh dần bị biến thành thuộc địa mới kiểu Mỹ và được Mỹ gọi là “cái sân sau” hay “cái ao nhà” của mình. Năm 1952, đế quốc Mỹ thiết lập chế độ độc tài quân sự Bat-xti-ta làm công cụ giúp mình thống trị nhân dân Cuba. Cũng bắt đầu từ đây, nhiệm vụ đấu tranh chống CNTD mới giành độc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập, tự do của nhân dân Cuba trở nên khó khăn, nặng nề và phức tạp hơn khi phải đối đầu với kẻ thù xảo quyệt hơn, có sức mạnh vượt trội về quân sự, kinh tế. Sự kiện đánh dấu bước chuyển biến mới về chất trong phong trào đấu tranh của nhân dân Cuba đó là ngày 26-7-1953, 135 thanh niên nam nữ do Phi-đen Ca- xtơ-rô chỉ huy tấn công vào trại lính Môn-ca-đa.

Mặc dù thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa đã có ý nghĩa to lớn: trước phiên tòa xét xử Phi-đen Ca-xtơ-rô, ông đã tự bào chữa cho mình với nhan đề “lịch sử sẽ xóa án cho tôi” được xem như bản Cương lĩnh Môn-ca-đa cổ vũ mạnh mẽ phong trào yêu nước phát triển; một tổ chức cách mạng khác có tên Phong trào 26 tháng Bảy ra đời nhằm kế tục sự nghiệp của các chiến sĩ Môn-ca-đa. Ngày 1-1-1959, cuộc tổng bãi công cách mạng với qui mô rất lớn do Bộ chỉ huy nghĩa quân đứng đầu là Phi-đen Ca-xtơ-rô, Đảng xã hội nhân dân và Mặt trận công nhân phối hợp tổ chức ở thủ đô La Habana và khắp các thành phố lớn trong cả nước. Cuộc tổng bãi công phối hợp chặt chẽ với các cuộc tiến công quân sự nhanh chóng giành thắng lợi. Chế độ độc tài quân sự thân Mỹ Bat-xti-ta bị lật đổ.

Chiến thắng trên có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với Cuba và cả thế giới : Kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh bền bỉ của nhân dân Cuba chống ách đô hộ của thực dân cũ, mới sau 500 năm bị nô dịch; Nhân dân Cuba đã giành được độc lập, làm chủ vận mệnh của mình và của đất nước; Cách mạng Cuba đã trở thành lá cờ đầu trong phong trào giải phóng dân tộc chống CNTD mới kiểu Mỹ, đã “phá vỡ một trong những khâu yếu của sợi dây chuyền thuộc địa kiểu mới của Mỹ ở Latinh” [112, tr. 34], là “tiếng chuông thức tỉnh nhân dân Mỹ Latinh, đánh tan thuyết định mệnh về địa lý lâu nay vẫn kìm hãm tư tưởng của họ”[101, tr. 28], trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh và thế giới. Sau ngày cách mạng thành công, ngày 2-1-1959, Chính phủ Liên hiệp lâm thời Cuba được thành lập, ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

Đế quốc Mỹ không chấp nhận mất quyền lợi, ảnh hưởng của mình tại đây. Vì vậy, chính quyền Tổng thống Ken-nơ-đi âm mưu chống phá chính phủ cách mạng, sử dụng tay sai nhằm lật đổ chính quyền cách mạng nhưng không thành công. Tháng 2 – 1959, Phi- đen Ca-xtơ-rô Ru-dơ trở thành Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa Cuba. Chính 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phủ mới do ông đứng đầu thực thi một loạt những chính sách tiến bộ đem lại quyền tự do dân chủ cho nhân dân như: Ban hành Đạo luật cơ bản (ngày 7-2-1959) (nội dung chủ đạo khẳng định Cuba là một nước độc lập, chủ quyền, dân chủ cho mọi công dân); Luật về Cải cách ruộng đất (5/1959) (chính quyền cách mạng tiến hành xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ đưa vào khu vực quốc doanh, được thực hiện qua hai đợt: đợt 1 đầu năm 1959, đợt 2 cuối năm 1963); Cải cách đô thị (10/1960); Sắc luật về quốc hữu hóa tư bản nước ngoài và toàn bộ các xí nghiệp công nghiệp (thực hiện năm 1959, 1960)…Đặc biệt, ngày 16-4-1961, Thủ tướng Phi-đen Ca-xtơ-rô tuyên bố lựa chọn CNXH làm mục tiêu chiến lược để xây dựng đất nước của nhân dân Cuba.

Thủ tướng Phi-đen khẳng định: “cuộc cách mạng của chúng ta là cuộc cách mạng dân chủ và xã hội chủ nghĩa của những người nghèo khổ, do những người nghèo khổ và vì những người nghèo khổ. Chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả tính mạng cho cuộc cách mạng”[113, tr. Như vậy, phải đến năm 1961, Cuba mới chính thức lựa chọn CNXH là mục tiêu chiến lược của mình. Nhưng những tư tưởng về cách mạng giải phóng và về CNXH của chủ nghĩa Mác-Lênin lại ảnh hưởng sâu đậm vào cách mạng Cuba.

Điều đó được minh chứng từ trong nội dung của Cương lĩnh Môn-ca-đa (1953), đến khi cách mạng thành công. Tiếp đó, cách mạng vừa thành công, bằng những cuộc cải cách dân chủ rộng rãi, tiến bộ trên các lĩnh vực của Chính phủ Cách mạng Cuba đã đem lại quyền cơ bản cho nhân dân lao động. Trong Tuyên bố ngày 16-4-1961, Cuba đã trở thành đất nước đầu tiên ở khu vực Mỹ Latinh lựa chọn con đường XHCN. Thêm vào đó, tháng 5-1963, Tổ chức cách mạng thống nhất được cải tổ thành Đảng cách mạng xã hội chủ nghĩa thống nhất Cuba do một ban lãnh đạo toàn quốc đứng đầu, công khai tuyên bố lấy chủ nghia Mác-Lênin làm ngọn cờ tư tưởng của mình.

Khu vực Mỹ Latinh, vốn vẫn được coi là “sân sau” của đế quốc Mỹ đã xuất hiện một cuộc cách mạng ở Cuba lật đổ ách thống trị thực dân mới của mình. Sau đó, bằng những hành động cương quyết, dứt khoát, Cuba tiến hành cải cách dân chủ rộng rãi loại bỏ quyền lợi và ảnh hưởng của Mỹ tại đây, đồng thời công khai lựa chọn CNXH làm mục tiêu chiến lược để xây dựng đất nước. Với những sự kiện lớn đó, Cuba trở thành linh hồn, lá cờ đầu ở Mỹ Ltinh trong cuộc chiến chống 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ. Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng đến quyền lợi của Mỹ tại đây, đến chiến lược toàn cầu của Mỹ mà trọng tâm coi CNCS là kẻ thù số 1 cần phải tiêu diệt.

Vì vậy, đế quốc Mỹ đã điên cuồng chống phá thành quả cách mạng của nhân dân Cuba, chống phá sự nghiệp xây dựng chế độ mới của họ bằng mọi thủ đoạn. Ngay khi cách mạng Cuba thành công, Mỹ đã tìm cách mua chuộc chính quyền mới nhưng không thành. Ngày 17-4-1961, Mỹ sử dụng vài nghìn lính đánh thuê đỏ bộ lên bãi biển Hi-rôn (Cuba) nhưng đã bị các lực lượng vũ trang Cuba đánh bại. Không chấp nhận thất bại, Chính quyền Mỹ đã thay đổi thủ đoạn: Tiến hành các hoạt động phá hoại, lật đổ gây mất ổn định về chính trị, đe dọa sử dụng vũ lực và chiến tranh với phong tỏa về ngoại giao; Khuất phục Cuba dưới hình thức “sự trừng phạt về kinh tế”, tiến hành cấm vận kinh tế, thương mại, KHKT.

Sự thù địch đó thể hiện rất rõ ràng, đặc biệt từ sau 1961 khi Cuba dứt khoát lựa chọn con đường đi lên CNXH, sự thù địch và âm mưu phá hoại của chính phủ Mỹ (đứng đầu là Tổng thống Ken-nơ-đi được thực hiện ráo riết và quyết liệt hơn). Nhiều lần chính giới Mỹ khẳng định: “Mỹ không chung sống hòa bình với chế độ hiện nay của Cuba” và rằng “Mỹ sẽ chống lại chế độ đó bằng mọi cách”[112, tr. Trong tờ New York Times ngày 21-4-1961, Tổng thống Ken-nơ-đi đã công khai tuyên bố: “Cuba không được rơi vào tay cộng sản…Nếu các nước ở lục địa này không chịu tham gia vào cuộc chiến đấu chống sự xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản từ bên ngoài, thì chính phủ chúng ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu đó một cách không do dự”[93, tr. Về quân sự, sau thất bại trong việc sử dụng lính đánh thuê tấn công Cuba tại bãi biển Hi-rôn (4-1961), tháng 10-1962, tiến hành bao vây quân sự với cớ “Cuba uy hiếp nền an toàn” của Mỹ, gây ra vụ khoảng tên lửa trầm trọng ở vùng biển Ca- ri-bê.

Sau đó, Liên Xô thỏa thuận sẽ rút tên lửa khỏi Cuba và Mỹ cam kết không xâm lược Cuba. Từ đây, Mỹ đã thay đổi chính sách thù địch với đất nước này, chọn giải pháp bao vây, cô lập kinh tế là chủ đạo. Mặc dù đã thỏa thuận với Liên Xô không xâm lược Cuba, nhưng trên thực tế những hành động chống phá cách mạng Cuba của Mỹ vẫn tiếp tục được triển khai với nhiều hình thức khác nhau. Từ đầu năm 1963, Chính phủ Mỹ đã thành lập cơ quan đặc biệt nhằm chống lại cách mạng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Từ tháng 10-1962 đến năm 1964, Mỹ đã thực hiện gần 2.000 vụ khiêu khích đối với Cuba[100, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ