CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thương mại hàng hóa Có nhiều định nghĩa về thương mại và thương mại hàng hóa được đưa ra dựa vào cách tiếp cận. Bách khoa toàn thư mở định nghĩa về “thương mại”: “Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó bằng tiền hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ khác như một hình thức hàng đổi hàng”1.
UNCTAD (2010), sử dụng thuật ngữ “thương mại” để phản ảnh vai trò chủ đạo của hoạt động mua và bán trong việc tạo ra các dòng lưu chuyển hàng hóa xuyên quốc gia. Định nghĩa của OECD về “thương mại hàng hóa” (Merchandise Trade): “Thương mại hàng hóa là hoạt động nhằm tăng hoặc giảm nguồn lực vật chất của một quốc gia bằng cách nhập hoặc xuất nó ra khỏi lãnh thổ kinh tế của một quốc gia. Hàng hóa chỉ được vận chuyển qua một nước (hàng hóa quá cảnh) hoặc hàng tạm nhập, tái xuất (không qua chế biến) không làm tăng hoặc giảm nguồn lực vật chất của một quốc gia không được tính vào thống kê thương mại hàng hóa quốc tế”2. Định nghĩa của Bách khoa toàn thư mở đã khái quát được bản chất của hoạt động thương mại.
Trong khi định nghĩa về thương mại và thương mại hàng hóa của UNCTAD và OECD nhấn mạnh vào hoạt động thương mại quốc tế. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sẽ sử dụng khái niệm “thương mại” theo định nghĩa của UNCTAD (2010) và khái niệm “thương mại hàng hóa” theo định nghĩa của OECD. 1 Nguyễn Minh Hương (2012).org/glossary/detail. Thương mại liên ngành và thương mại nội ngành Thương mại liên ngành là thương mại của các sản phẩm thuộc các ngành khác nhau.
Thương mại của các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất ở một quốc gia với các sản phẩm công nghệ được sản xuất ở một nước khác là một ví dụ điển hình về thương mại liên ngành. Các quốc gia tham gia vào thương mại liên ngành theo lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó. Ngược lại, thương mại nội ngành là thương mại giữa các sản phẩm thuộc cùng một ngành. Lấy gạo làm ví dụ, Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng người tiêu dùng Việt Nam vẫn sử dụng gạo được nhập khẩu từ Thái lan.
Thương mại nội ngành đã trở thành một nhân tố quan trọng của tăng trưởng thương mại trong những thập kỷ gần đây. Xu hướng này được hình thành chủ yếu nhờ sự phân mảng sản xuất (thuê ngoài hoặc tự sản xuất) và là kết quả của toàn cầu hóa và đổi mới công nghệ. Dựa trên đặc điểm và tính chất của trao đổi hàng hóa mà thương mại nội ngành được phân thành thương mại nội ngành dọc và thương mại nội ngành ngang. Thương mại nội ngành ngang là thương mại giữa các sản phẩm giống nhau về chức năng, mục đích sử dụng nhưng khác nhau về giá cả, chất lượng và mẫu mã.
Ví dụ, Nhật Bản xuất khẩu ô tô Toyota sang Đức và nhập khẩu ô tô BMW của Đức. Thương mại nội ngành dọc là thương mại giữa các sản phẩm trong cùng một ngành nhưng khác nhau về chức năng. Ví dụ, Việt Nam nhập khẩu các linh kiện điện thoại từ Hàn Quốc để lắp ráp thành các điện thoại thông minh và sau đó xuất khẩu các sản phẩm hoàn thiện này sang các thị trường khác. Cơ cấu thương mại hàng hóa Tùy vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, hàng hóa xuất nhập khẩu có thể được phân loại theo nhiều các khác nhau.
11 Để thuận tiện cho thống kê Hải quan và tính thuế quan giữa các quốc gia, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) đã cho ra đời Hệ thống mã và mô tả hàng hóa điều hòa (Harmonised Commodity Description and Coding System) – gọi tắt là Hệ thống Hài hòa (HS). HS phân loại hàng hóa dựa trên bản chất của chúng. Với HS, hàng hóa được phân loại thành phần, chương, nhóm và phân nhóm với mức chi tiết tới 6 chữ số. Hệ thống HS thường xuyên được cập nhật và sửa đổi cho phù hợp với sự phát triển công nghệ, thay đổi trong giao dịch thương mại và nhu cầu sử dụng.
Phiên bản đầu tiên của hệ thống HS được WCO ban hành năm 1988, được sửa đổi lần đầu vào năm 1992 và tiếp tục được bổ sung chỉnh sửa vào năm 1996. Phiên bản HS-1996 là phiên bản cũ nhất vẫn còn hiệu lực trên thực tế. Trong bản HS-1996, hàng hóa xuất nhập khẩu được chia thành 21 phần, 97 chương (2 chữ số), 1241 nhóm (4 chữ số) và 5113 phân nhóm (6 chữ số). Sau đó, HS tiếp tục được cập nhật với các phiên bản HS 2002, HS 2007 và phiên bản mới nhất hiện nay là HS-2012 được WCO ban hành vào thành 1 năm 2012.
Trong phiên bản HS-2012, hàng hóa được phân thành 21 phần, 98 chương, 1231 nhóm hàng và 5212 phân nhóm. Hệ thống HS có một hạn chế là không thể so sánh giữa các nước. Do đó, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và so sánh hoạt động thương mại giữa các nước, Liên hiệp Quốc đã cho ra đời Hệ thống phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu (SITC). Bản SITC đầu tiên ra đời năm 1950, và liên tục được cập nhật vào những năm 1969, 1975, 1988, 1996, 2002 và 2007.
Phiên bản SITC 2007 là phiên bản mới nhất hiện nay. Và để thuận tiện, Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên hiệp quốc cũng đưa ra các bản chuyển đổi giữa SITC và HS. Ngoài hai hệ thống phân loại phổ biến trên, Ủy ban Thống kê Liên hiệp quốc còn đưa ra hệ thống phân loại hàng hóa theo mục đích sử dụng còn gọi là Danh mục phân loại hàng hóa theo ngành kinh tế rộng (BEC). Đây là bảng danh mục phân loại hàng hóa nhập khẩu theo công dụng cuối cùng của chúng 12 thành các nhóm thương ứng với nhóm hàng hóa cơ bản trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), đó là tư liệu sản xuất, hàng hóa trung gian và hàng hóa tiêu dùng.
Ngoài các phân loại hàng hóa chính thức như trên, tùy vào mục đích nghiên cứu các nhà kinh tế học còn phân loại hàng hóa theo mức độ thâm dụng nguồn lực (vốn, lao động, công nghệ); theo trình độ sản xuất (hàng hóa thô, sơ chế, hàng chế biến sử dụng nhiều tài nguyên, hàng chế biến công nghệ thấp, công nghệ trung bình và công nghệ cao). Để phục vụ cho nghiên cứu, luận văn ngoài sử dụng tiêu chuẩn phân loại HS còn sử dụng các tiêu chí phân loại theo trình độ công nghệ và phân loại theo mục đích sử dụng. Lý thuyết thương mại quốc tế 1. Lý thuyết thương mại cố điển và tân cổ điển a.
Chủ nghĩa Thương mại trọng thương Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, đã hình thành một dòng lý thuyết ủng hộ thương mại quốc tế mà chúng ta vẫn thường biết đến là “chủ nghĩa thương mại trọng thương”. Một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất của chủ nghĩa trọng thương là Thomas Mun. Với vai trò là người lãnh đạo của công ty Đông Ấn hùng mạnh thời kỳ đó, Thomas Mun và những người cùng tư tưởng ra sức đưa ra các luận điểm ủng hộ ngoại thương. Họ cho rằng các quốc gia muốn trở nên giàu mạnh thì phải phát triển ngoại thương.
Ngoại thương sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước thông qua việc tăng cường tiêu thụ các sản phẩm này ở nước ngoài, đồng thời có thể nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất giá rẻ ở nước ngoài phục vụ cho sản xuất trong nước. Và quốc gia sẽ trở nên giàu có nhờ lượng vàng thu được từ thặng dư thương mại. Mặc dù đã chỉ ra được mặt tích cực của thương mại quốc tế nhưng các lập luận của trường phái trọng thương còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chưa đưa ra được lý do mà các quốc gia yếu hơn (thường chịu thâm hụt trong quan hệ thương mại với các quốc gia hùng mạnh) tham gia vào thương mại quốc tế. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Được đưa ra bởi A.
Smith (1776) trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc”. Smith nhận định rằng, mỗi quốc gia có các điều kiện (khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa,…) khác nhau nên sẽ hình thành các lợi thế mà các quốc gia khác không có được, được gọi là “lợi thế tuyệt đối”. Sự khác biệt trong lợi thế tuyệt đối giữa các quốc gia chính là nguồn gốc của thương mại quốc tế. Ví dụ, với hai nước Việt Nam và Nhật, với nền kinh tế được đơn giản hóa với hai mặt hàng là hàng may mặc và ô tô.
Việt Nam với lợi thế giá nhân công rẻ và nguồn lao động phổ thông dồi dào được xem là có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng may mặc còn Nhật Bản với lợi thế về khoa học kỹ thuật và nguồn tư bản dồi dao được xem là có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất ô tô. Do đó, Việt Nam sẽ tập trung sản xuất hàng may mặc và mang chúng ra trao đổi lấy ô tô do Nhật chế tạo. Ở chiều ngược lại, Nhật Bản sẽ sản xuất ô tô để tận dụng lợi thế tuyệt đối của mình và sẽ đem đổi lấy hàng may mặc từ Việt Nam để phục vụ nhu cầu trong nước. Smith đã giải thích được nguyên nhân của thương mại quốc tế và sự hình thành cơ cấu xuất khẩu của các quốc gia.
Tuy nhiên, lý thuyết này chưa giải thích được tại sao có những quốc gia không có bất kỳ lợi thế tuyệt đối nào (ví dụ như Singapore thời kỳ đầu lập quốc) lại tham gia và được lợi từ thương mại quốc tế. Lý thuyết lợi thế tương đối Quy luật “lợi thế so sánh” được D. Ricardo sử dụng lần đầu tiên năm 1817 trong nghiên cứu kinh điển “Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khóa”. Quy luật lợi thế so sánh phát biểu rằng: “mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh.
Ricardo nhấn mạnh rằng: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với nước khác trong việc sản xuất mọi sản sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm nào đó.