LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khu vực thương mại tự do là hình thức liên kết kinh tế quốc tế, trong đó các quốc gia thành viên cùng nhau thỏa thuận giảm dần hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan để tiến tới thành lập một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên mỗi quốc gia thành viên vẫn có chính sách thương mại riêng với các quốc gia không phải thành viên. Khu vực thương mại tự do là yếu tố then chốt để giúp các quốc gia gia nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, từ đó thúc đẩy thế mạnh xuất khẩu của mình thông qua việc từng bước cắt giảm một số rào cản thương mại do các quốc gia thành viên khác đặt ra.
Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với nhiều Hiệp định thương mại tự do được ký kết. Một trong những thành công trong công cuộc hội nhập của Việt Nam thời gian gần đây là ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU - bao gồm các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan) được ký kết ngày 29/5/2015, và có hiệu lực từ ngày 05/10/2016. Liên minh kinh tế Á – Âu là một thị trường tiềm năng với dân số khoảng 182,7 triệu dân và GDP trên 2500 tỷ USD, đặc biệt trong đó có Liên bang Nga là một trong những quốc gia có vị trí hàng đầu trên thế giới đã thu hút sự quan tâm của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới ký FTA Liên minh này, do đó các doanh nghiệp Việt Nam trước tiên sẽ có nhiều lợi thế khi xuất khẩu sang thị trường Liên bang Nga và sau đó tiến tới là các quốc gia khác trong thị trường EAEU.
Liên bang Nga được đánh giá là thị trường tiêu dùng và bán lẻ rộng lớn, đa dạng về hàng hóa nhập khẩu, đồng thời là thị trường đầy tiềm năng cho xuất khẩu các mặt hàng nông sản và thuỷ sản của Việt Nam. Hiện nay, Liên bang Nga đang là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 26 của Việt Nam, đây là thị trường xuất khẩu truyền thống của nước ta từ những năm 90 đến nay. Thị trường Liên bang Nga rất hấp dẫn với dân số 144,5 triệu người, thu nhập bình quân đầu người khoảng 10.885 USD/năm, trong đó tầng lớp trung lưu ngày một phát triển (chiếm khoảng 55%), văn hóa tiêu dùng của người dân ngày càng được nâng cao (theo WB, 2017). Đặc 2 biệt, ngay sau khi FTA Việt Nam - EAEU được thực thi, phần lớn hàng hóa có lợi thế của Việt Nam như thuỷ sản được hưởng mức thuế suất bằng 0.
Về xuất xứ hàng hóa, Việt Nam đã đạt được quy tắc xuất xứ linh hoạt đối với một số sản phẩm thủy sản chế biến, đóng hộp như cá ngừ, tôm. Đây là nhóm mặt hàng hiện nước ta còn thiếu nguyên liệu và phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ các nước khác (chiếm khoảng 50%). Hiệp định cho phép nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ chế biến cá ngừ, tôm và một số loại thủy sản đóng hộp khác nhưng phải đáp ứng hàm lượng nội địa 40%. Do vậy, các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đang đứng trước một cơ hội to lớn so với các đối thủ cạnh tranh khác, các doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt cơ hội này, có kế hoạch xúc tiến phù hợp nhằm đưa thuỷ sản Việt Nam thành công vào thị trường Liên bang Nga.
Tuy nhiên hiện nay Liên bang Nga không phải là một thị trường lớn của Việt Nam về xuất khẩu thủy sản. Mặc dù Việt Nam nằm trong danh sách 10 quốc gia lớn nhất xuất khẩu thủy sản vào thị trường Liên bang Nga nhưng xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam sang thị trường này chỉ chiếm gần 6% thị phần nhập khẩu thuỷ sản của nước này. Theo số liệu từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP), tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Liên bang Nga chỉ chiếm khoảng 1,2% - 1,5% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, giá trị xuất khẩu chỉ dao động trong khoảng 84 – 106 triệu USD, chưa tương xứng với tiềm năng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng đến nay, việc xuất khẩu thủy sản sang thị trường này vẫn gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
Trong vài năm trở lại đây, sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Liên bang Nga có phần kém nổi bật hơn các thị trường khác. Có thể thấy việc nghiên cứu lý thuyết Khu vực thương mại tự do và vận dụng lý thuyết này để đánh giá thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Liên bang Nga và đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam thành công vào thị trường Liên bang Nga là điều rất cần thiết, vì cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học chuyên biệt nào về vấn đề này. Vì vậy em lựa chọn đề tài “Vận dụng lý thuyết khu vực thương mại tự do vào nghiên cứu xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Liên bang Nga” để làm luận văn thạc sỹ kinh tế. Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án tiến sỹ “Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2012 của tác giả Nguyễn Minh Tuấn tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường EU trong thời gian qua, xác định những thành công đạt được và hạn chế còn tồn tại, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế này.
Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cụ thể để thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU trong thời gian tới. Luận văn thạc sỹ “Tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và các giải pháp đề xuất đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam sang thị trường EU” năm 2015 của tác giả Vũ Thị Hà Bắc tại trường Đại học Thương mại, nghiên cứu nội dung của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, đánh giá thực trạng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian qua, rút ra những thành công và hạn chế trong việc xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường EU, từ đó đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này trong bối cảnh thực thi hiệp định EVFTA. Luận văn thạc sỹ “Thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường Liên bang Nga trong bối cảnh mới” năm 2015 của Trần Huy Đức tại Trường Đại học Ngoại Thương: Luận văn nghiên cứu về thực trạng xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Liên bang Nga giai đoạn 2010 – 2015 và các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này đã được áp dụng. Luận văn cũng kiến nghị thêm một số các giải pháp khác để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Liên bang Nga trong bối cảnh thực thi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á – Âu.
Luận văn thạc sỹ "Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang khối Liên minh Kinh tế Á Âu” năm 2015 của tác giả Hàn Huyền Hương tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân: Luận văn nghiên cứu các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Liên minh Kinh tế Á – Âu đã được thực thi trong thời gian qua và đưa ra các giải pháp mới nhằm tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường này trong bối cảnh Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á – Âu có hiệu lực. 4 Luận văn thạc sỹ “Xuất khẩu nông sản sang thị trường Liên bang Nga: cơ hội và thách thức” năm 2016 của tác giả Nguyễn Thị Hường tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những cơ hội đang mở ra cho mặt hàng nông sản của Việt Nam cũng như những thách thức lớn đối với mặt hàng này khi thâm nhập vào thị trường Liên bang Nga. Luận văn đã đưa ra được định hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường Liên bang Nga. Luận văn thạc sỹ “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang Liên bang Nga” năm 2017 của tác giả Doãn Thị Mai Hương tại trường Đại học Lao động Xã hội đã phân tích thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang Liên bang Nga, đồng thời chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trường này, đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang Liên bang Nga thời gian tới.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học chuyên biệt nào về lý thuyết Khu vực thương mại tự do và vận dụng lý thuyết này để đánh giá thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Liên bang Nga và đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trường này. Vì vậy vấn đề “Vận dụng lý thuyết khu vực thương mại tự do vào nghiên cứu xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Liên bang Nga” cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện hơn trên góc độ hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm làm rõ hơn cơ sở khoa học cho việc vận dụng lý thuyết Khu vực thương mại tự do vào nghiên cứu thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Liên bang Nga và từ đó đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản thành công sang thị trường này. Do đó đề tài luận văn của tác giả mang tính khoa học và tính thực tiễn cao.