mở đầu bằng việc bồi thường chiến tranh, sau khi ký hiệp ước Sanfrancisco 1951, các cuộc thương lượng được tiến hành đến tận cuối thập niên 50 và các cuộc đối thoại nổi bật còn kéo dài mãi đến cuối thập niên 60. Nhật ký thỏa thuận bồi thường chiến tranh với Nam Việt Nam tháng 5/1959. Với cuộc chiến của Mỹ ở Nam Việt Nam, vai trò nổi bật của Nhật đó là Nhật là đồng minh của Mỹ, điều này đã gây ra nhiều khó chịu với một số nước ở ĐNA. Hai công trình của hai học giả nước ngoài, một là của Petro D.“Chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ II”.
Mat-xcơ-va 1965 và hai là của Robert A. Scalapino (Edited), the Foreign Policy of Modern Japan (chính sách đối ngoại của Nhật Bản hiện đại), University of California Press, 1977, đều trình bày khá chi tiết về chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ khi Nhật thua trận sau Chiến tranh thế giới II và thực hiện một chính sách ngoại giao rất hiệu quả. Trên cơ sở đó Nhật đã thiết lập và mở rộng quan hệ với các nước phù hợp với lợi ích của Nhật lúc đó, đặc biệt là trong chính sách của Nhật với các nước khu vực ĐNA. Trong bài viết của ông Hioyoshi Yushital (Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam).
Chính sách của Nhật Bản ở Đông Nam Á, Tạp chí Quan hệ quốc tế, số 9/1991 cũng đã trình bày khá kỹ về các chủ trương của Nhật Bản đối với khu vực ĐNA trước đây và trong giai đoạn hiện nay. Ông đã phân tích tình hình khu vực và những tính toán lợi ích của Nhật đối với khu vực, làm cơ sở để Nhật hoạch định chính sách đối với khu vực này trong mỗi giai đoạn lịch sử như thế nào. Và việc thiết lập quan hệ 17 với các quốc gia trong khu vực trong đó có VNCH cũng nằm trong khuôn khổ của các tính toán lợi ích này.Caiger (Người dịch: Nguyễn Văn Sỹ); Lịch sử Nhật Bản; Nhà xuất bản lao động, HN 2003 đã phác họa một bức tranh về Nhật từ thời kỳ xa xưa khi bắt đầu thống nhất chính trị đến thời kỳ Yamoto, giai đoạn Nhật Bản bước sang những năm đầu của thời kỳ hiện đại được khắc họa rõ nét qua triều đại Tokugawa. Đặc biệt phần cuối cuốn sách tác giả đã dành 128 trang để vẽ nên bức tranh Nhật Bản thời kỳ hiện đại.
Bắt đầu thời kỳ Minh Trị với những chủ trương cải cách mang tính đột phá đến giai đoạn chiến tranh Thái Bình Dương và một thời kỳ dài Nhật chịu sự chiếm đóng của quân đội Mỹ. Việc chính quyền Nhật Bản ký công ước quân sự với Hoa Kỳ và việc ký hiệp ước hòa bình ở San Francisco tháng 9 năm 1951 đã biểu hiện những tính toán chiến lược Mỹ đối với khu vực ĐNA ngày càng rõ ràng hơn. Đây cũng là cơ sở dẫn đến những ràng buộc trong quan hệ Mỹ- Nhật và những chính sách của Nhật đối với khu vực giai đoạn này. Các nhà nghiên cứu Xô Viết cũng đã nghiên cứu khá kỹ các quan hệ với nước ngoài của Nhật Bản, đặc biệt là đối với các nước ở khu vực Châu Á.
Va-xi-lep-xcai-a I.I, Nhật Bản và các nước ĐNA sau chiến tranh thế giới 2, Nxb Khoa học, M. Theo nhà nghiên cứu I. Va-xi-lep-xcai-a, việc trở lại ĐNA của Nhật Bản vào một, hai năm cuối của thập kỷ 40 và 50 là nằm trong sự tính toán của Mỹ. Một mặt, Nhật Bản đến với những nước đã dành độc lập ở khu vực này vì những nước này đang rất cần phục hồi và phát triển nền kinh tế về mọi mặt, lúc này Nhật phải dựa vào Mỹ để lấy lại ảnh hưởng ở khu vực rộng lớn này của Châu Á.
Mặt khác, bằng sự can thiệp trực tiếp Mỹ đã lợi dụng việc bồi thường chiến tranh Thái Bình Dương- ĐNA và nhìn nó như là “một vùng nằm trong ảnh hưởng kinh tế- chính trị- “một vùng đất cấm”- của các tập đoàn tư bản độc quyền Nhật Bản” nhất là khi kế hoạch Miki được công bố tháng 12 năm 1966. Giáo sư quan hệ quốc tế Giắc-Gra-Vơ-rô người Pháp trong bài “Kinh tế thế giới: Nhật Bản bỏ rơi những bạn hàng Châu Á”; Tạp chí “Á- Phi hiện đại” số 1947, Mùa Đông 1985-1986. Nxb Trung tâm nghiên cứu cao cấp về Á- Phi hiện đại 18 (CHEAM), Paris, tr62 đề cập đến việc Nhật Bản không thể bỏ qua những người bạn Châu Á và đánh giá yếu tố tác động thuận nghịch đến quan hệ giữa Nhật Bản với các quốc gia trong khu vực này. Trong một số tư liệu và sách báo của Nhật, các nhà nghiên cứu Nhật Bản lại thừa nhận mối quan hệ của Nhật Bản với các nước vùng ĐNA sau Chiến tranh thế giới thứ II là rất khó khăn, và khẳng định quan hệ chủ yếu của Nhật Bản với khu vực này là quan hệ kinh tế, quan hệ thương mại.
Khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật Bản bị mất quyền độc lập buôn bán với nước ngoài, mọi quan hệ ngoại thương đều phải thông qua các tổ chức thương mại Mỹ. Đến thời kỳ nội các của Kishi (1957-1960) thì Nhật Bản mới có được một chính sách đối nội, đối ngoại độc lập hơn. Đây có thể được coi như là một tuyên ngôn trở lại thế giới của Nhật Bản với một trọng tâm rõ ràng: Gắn với các nước tư bản phương Tây và không để mất mối quan hệ có lợi với các nước ĐNA thông qua việc bồi thường chiến tranh và các hoạt động viện trợ. Nhà nghiên cứu MiZu Ôkurôda trong bài “Những vấn đề và những thách thức đối với Nhật Bản trong quan hệ đối ngoại”: Tạp chí Pacific Community.
Số tháng 10-năm 1976 đã đề cập đến thái độ của các nước ĐNA trong quan hệ với Nhật Bản và lí do cho những thái độ ấy. Saburo Okita- Các nền kinh tế đang phát triển và Nhật Bản, những bài học về tăng trưởng, 3 tập, Nxb Viện kinh tế thế giới 1988. Đã đánh giá về quan hệ bắc nam tại vùng Châu Á- Thái Bình Dương với nhận định: “Việc thống nhất Bắc và Nam Việt là một sự kiện chính trị có ý nghĩa, có tác động sâu sắc đến ĐNA cũng như toàn khu vực” và ông khẳng định: “Thập kỷ 70, bây giờ gần kết thúc, là một thập kỷ quan trọng nhiều mặt cho cả Nhật Bản lẫn ASEAN” Trên cơ sở đó Nhật Bản tính đến tầm quan trọng của mối quan hệ này trong bối cảnh toàn khu vực và toàn cầu: “thời kỳ mà Nhật Bản và ASEAN có thể chỉ quan tâm đến bản thân mình thôi đã chấm dứt. Giờ đây, mối quan hệ ASEAN- Nhật Bản cần phải xác định trong bối cảnh toàn cầu, nhất là vì trật tự quốc tế đang xuất hiện ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương”.
Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng quan hệ Nhật Bản với chính quyền Việt Nam Cộng hòa 1. Nhóm công trình của tác giả trong nước Những tác phẩm trong nước đề cập trực tiếp hoặc liên quan đến quan hệ Nhật Bản- VNCH cũng khá nhiều với thời điểm lịch sử khác nhau cùng cách tiếp cận khá là phong phú và đa dạng, tiêu biểu: Ngô Xuân Bình và Trần Quang Minh (đồng chủ biên), 2005- Quan hệ Việt Nam- Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai, Nxb Khoa học xã hội là một công trình đề cập khá toàn diện về quan hệ Nhật Bản-Việt Nam trong suốt giai đoạn dài. Trong tác phẩm này các tác giả cũng đã phân tích về khá nhiều lĩnh vực quan hệ mà hai bên có với nhau. Đặc biệt, từ cách tiếp cận vấn đề dưới một góc nhìn lịch sử như vậy nên một giai đoạn đặc thù trong quan hệ Nhật- Việt- là thời kỳ quan hệ Nhật Bản- VNCH được thiết lập cũng được đề cập đến khá nhiều lần trong các bài viết.
Những lí do hình thành quan hệ Nhật Bản- chính quyền Sài Gòn, mối quan hệ này được thể hiện dưới những lĩnh vực nào và những chuyển biến của bản chất mối quan hệ khi tình hình Việt Nam thay đổi cũng được phân tích khá sâu. Chính vì thế, cuốn sách này đã cung cấp cho người đọc một cách nhìn nhận đầy đủ hơn về quan hệ giữa Nhật Bản- VNCH. Bài viết: Sự thăng trầm trong quan hệ Việt- Nhật, Hà Hồng Hải, Nghiên cứu quốc tế số 3, đã trình bày khá lô gích và thuyết phục về quan hệ Nhật Bản- Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử kể từ thời phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XVI đến năm 1945), quan hệ Việt- Nhật trong thời kỳ Việt Nam đấu tranh gìn giữ độc lập, thống nhất đất nước (1945-1975) và thời kì nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất cho đến nay. Trong phần viết về thời kì Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, tác giả có đề cập đến giai đoạn nhạy cảm trong quan hệ Việt – Nhật thông qua việc Nhật đã thiết lập quan hệ với chính quyền VNCH mà làm lơ VNDCCH, Nhật còn ủng hộ và giúp đỡ Mỹ trong cuộc chiến tranh Mỹ thực hiện tại Việt Nam…Tuy rằng, bài viết chỉ dừng lại ở mức khái quát nhưng cũng góp phần bổ sung về một cách đánh giá về quan hệ đặc thù này.
20 Trong bài viết: Về quan hệ chính trị Viêt Nam- Nhật Bản qua 30 năm của tác giả Hồ Việt Hạnh (Quan hệ Việt Nam- Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai, Ngô Xuân Bình và Trần Quang Minh (đồng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, HN- 2005) cũng đã phân tích khá kỹ quan hệ chính trị Việt Nam- Nhật Bản từ trước Chiến tranh thế giới thứ II cho đến giai đoạn khi chiến tranh lạnh kết thúc, khi quan hệ Việt Nam- Nhật Bản đã sang một trang mới. Trong bài viết của mình, tác giả cũng đã phân tích đến một giai đoạn đặc biệt của mối quan hệ này. Đó là khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật Bản bị quân đồng minh chiếm đóng cho đến năm 1952, năm Hiệp nghị hòa bình San Francisco có hiệu lực, Nhật Bản chủ động thiết lập quan hệ ngoại giao với một loạt nước trong đó có Việt Nam với đại diện là chính quyền Bảo Đại. Quan hệ ngoại giao chính thức của Nhật Bản với Việt Nam được duy trì với các chính quyền tay sai của Mỹ sau đó.
Tác giả phân tích thực chất từ sau chiến tranh thế giới II đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Nhật Bản thực hiện một chiến lược tập trung vào tăng trưởng kinh tế và lảng tránh đến những vấn đề dính líu về chính trị quân sự.