Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Lịch sử mang tên "Quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc từ năm 2001 đến năm 2010" được sinh viên Chu Thị An thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Phụng Hoàng tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 4 năm 2011).
Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định là bước chuyển dịch mang tính bước ngoặt của cục diện quốc tế khi bước sang thế kỷ XXI. Sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, quan hệ quốc tế chuyển dần từ trạng thái đối đầu sang xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; đồng thời hai trào lưu toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra sâu rộng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị và văn hóa. Trong không gian khu vực Đông Bắc Á và thế giới, Nhật Bản và Trung Quốc là hai quốc gia giữ vị trí chiến lược hàng đầu. Nhật Bản sau nhiều thập kỷ vươn lên thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới đã trải qua giai đoạn đình trệ và suy thoái trong những năm 1990 ("thập niên mất mát") và đang tìm cách củng cố vị thế. Ngược lại, Trung Quốc sau hơn ba thập kỷ kiên trì đường lối cải cách và mở cửa (từ Hội nghị Trung ương 3 khóa XI năm 1978) đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, để rồi đến năm 2009 chính thức vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Mối quan hệ giữa hai quốc gia láng giềng Đông Bắc Á vốn được bình thường hóa từ năm 1972 (Tuyên bố chung Tanaka - Chu Ân Lai) và củng cố bằng Điều ước hòa bình hữu hảo năm 1978, nhưng luôn đan xen giữa hợp tác kinh tế chặt chẽ và những căng thẳng chính trị, an ninh phức tạp.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được triển khai theo các trọng tâm cụ thể:
- Hệ thống hóa bối cảnh lịch sử của quan hệ Nhật - Trung trong thập niên 1990 và tác động của cục diện quốc tế đầu thế kỷ XXI đến chính sách đối ngoại của hai nước.
- Phân tích diễn biến thực tế của mối quan hệ song phương trên các phương diện chính trị, ngoại giao, an ninh, quân sự, kinh tế (mậu dịch, đầu tư, viện trợ phát triển) và các lĩnh vực hợp tác khác trong giai đoạn 2001 - 2010.
- Rút ra các đặc điểm, tính chất cơ bản, bài học kinh nghiệm của mối quan hệ; đồng thời phân tích các nhân tố thúc đẩy, nhân tố cản trở và đưa ra nhận định về triển vọng quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc.
- Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử quan hệ quốc tế phục vụ công tác học tập, nghiên cứu và nghiệp vụ giảng dạy bộ môn Lịch sử trong tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ song phương giữa Nhật Bản và Trung Quốc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự - an ninh và văn hóa.
- Phạm vi thời gian: Tập trung chính vào giai đoạn 10 năm từ năm 2001 đến năm 2010, có khảo sát mở rộng về bối cảnh lịch sử thập niên 1990 để tạo nền tảng so sánh.
- Phạm vi không gian: Không gian địa lý - chính trị của Nhật Bản và Trung Quốc, đặt trong tương quan khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và bối cảnh toàn cầu.
Về lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả đã khảo cứu và tiếp thu có chọn lọc các công trình tiêu biểu:
- Tác phẩm "Dự đoán Trung Quốc thế kỉ XXI" của Phùng Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Mậu dịch (NXB Văn hóa Thông tin, 1999), cung cấp góc nhìn ngoại giao và vị thế cặp quan hệ "Đông Á song hùng".
- Chuyên khảo "Quan hệ Nhật - Trung từ sau chiến tranh Thế Giới thứ 2 đến nay" của Nguyễn Thanh Bình (NXB Khoa học Xã hội, 2004), cung cấp hệ thống tư liệu chuyên sâu về ngoại giao và số liệu viện trợ ODA.
- Sách "Thế giới, khu vực và một số nước lớn bước vào năm 2004" do Phí Như Thanh chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, 2004), phân tích bối cảnh và chính sách đối ngoại của các nước lớn.
- Giáo trình "Lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến cuối chiến tranh lạnh (1945 - 1991)" của TS. Lê Phụng Hoàng (NXB ĐHSP TP.HCM, 2005).
- Tác phẩm "Lịch sử Nhật Bản" do Nguyễn Quốc Hùng chủ biên (NXB Thế giới, 2007).
- Kỷ yếu "Báo cáo phát triển Trung Quốc tình hình và triển vọng" do Đỗ Tiến Sâm chủ biên (NXB Thế giới), trong đó có bài nghiên cứu của ThS. Nguyễn Thu Hiền về khủng hoảng ngoại giao Trung - Nhật năm 2005.
- Luận văn "Nhìn lại 35 năm quan hệ Trung - Nhật (từ 1972 đến 2007)" của Nguyễn Xuân Giáp tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM cùng các bài báo trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, Nghiên cứu Trung Quốc, Kinh tế Châu Á, Đông Bắc Á.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận của khóa luận dựa trên lý luận về quan hệ quốc tế đương đại, tập trung vào sự chuyển dịch cấu trúc quyền lực thế giới từ hai cực sang đa cực sau Chiến tranh Lạnh và tính chất đa chiều của xu thế toàn cầu hóa. Về mặt pháp lý và ngoại giao song phương, nghiên cứu vận dụng các nguyên tắc cốt lõi đã được xác lập giữa hai nước: Bản Tuyên bố chung năm 1972, Điều ước hòa bình hữu hảo Trung - Nhật năm 1978, cùng 4 nguyên tắc định hướng quan hệ: "hòa bình hữu hảo, bình đẳng cùng có lợi, nương tựa vào nhau, ổn định lâu dài". Nghiên cứu cũng sử dụng khái niệm "khoảng cách đều đặn" (tokiori gaiko) của ngoại giao Nhật Bản trong quan hệ cân bằng nước lớn, và mô hình chính sách ODA gắn với 4 nguyên tắc hạn chế chiến lược của Tokyo ban hành năm 1992.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp lịch sử và logic: Tái hiện tiến trình quan hệ song phương theo trình tự thời gian xuyên suốt từ thập niên 1990 đến năm 2010, phân tích bản chất bên trong của từng chính sách ngoại giao và sự kiện lịch sử cụ thể.
- Phương pháp so sánh lịch sử: Đối chiếu sự thăng trầm, lúc ấm nóng, lúc lạnh nhạt giữa các thời kỳ lãnh đạo khác nhau của Nhật Bản (nội các Hosokawa, Murayama, Hashimoto, Koizumi, Abe, Fukuda) và các giai đoạn phát triển kinh tế của Trung Quốc.
- Phương pháp định lượng thống kê: Thu thập, phân loại, lập bảng số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP, cán cân thương mại, các dự án đầu tư và các khoản vốn vay, viện trợ không hoàn lại ODA của Nhật Bản cho Trung Quốc.
- Phương pháp phân tích quan hệ quốc tế: Đặt mối quan hệ Nhật - Trung trong mạng lưới quan hệ đa phương với Hoa Kỳ, ASEAN và các định chế toàn cầu như Liên Hợp Quốc, WTO.
Nguồn dữ liệu của đề tài được khai thác từ các văn bản tuyên bố chung của chính phủ hai nước, dữ liệu thống kê từ Ngân hàng Thế giới (WB), số liệu viện trợ ODA của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã, nguồn lưu trữ tại Thư viện Trường ĐHSP TP.HCM và Thư viện Quốc gia tại TP.HCM.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Bối cảnh lịch sử
Chương này tái hiện bức tranh kinh tế - xã hội của Nhật Bản và Trung Quốc trong thập niên 1990, đồng thời phân tích những chuyển biến quốc tế đầu thế kỷ XXI.
Về phía Nhật Bản, sự đổ vỡ của "nền kinh tế bong bóng" vào đầu những năm 1990 dẫn đến cuộc suy thoái kéo dài. Đồng Yên tăng giá đột ngột (từ mức 1 USD = 133 Yên cuối năm 1991 lên mức 1 USD = 80 Yên năm 1995, tăng 40% trong 4 năm) làm suy giảm sức cạnh tranh quốc tế và gây ra hiện tượng "rỗng ruột" công nghiệp trong nước. Tăng trưởng kinh tế giảm chạm đáy vào tháng 10 năm 1993, phục hồi yếu ớt lên mức 1% vào năm 1995 và rơi vào tăng trưởng âm kỷ lục sau chiến tranh trong giai đoạn 1997 - 1998 do gánh nặng nợ khó đòi. Về chính trị, sự kiện Đảng Dân chủ Tự do (LDP) mất quyền lực vào tháng 7 năm 1993 sau 38 năm cầm quyền liên tục đã chấm dứt "thể chế 1955". Các nội các Hosokawa Morihiro, Murayama Tomiichi và Hashimoto Ryutaro liên tục đối mặt với biến động chính trị nội bộ, thảm họa động đất Kobe (tháng 1 năm 1995) và vụ tấn công khí độc tàu điện ngầm Tokyo làm 12 người chết, 5.000 người bị thương. Trên mặt trận ngoại giao, xuất phát từ sáng kiến 3 nội dung năm 1988 của Thủ tướng Takeshita Noboru và chủ trương trật tự mới năm 1990 của Thủ tướng Kaifu Toshiki, Sách xanh ngoại giao năm 1992 khẳng định mục tiêu đưa Nhật Bản trở thành "cường quốc chính trị".
Về phía Trung Quốc, công cuộc cải cách và mở cửa tiến hành từ Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (tháng 12 năm 1978) trải qua 4 giai đoạn cụ thể: cải cách nông thôn (12/1978 - 10/1984), cải cách thành thị (10/1984 - 9/1988), chấn chỉnh kinh tế phát triển quá nóng (9/1988 - 12/1991), và cải cách sâu rộng toàn diện (từ tháng 1 năm 1992). Chỉ số tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 1979 đến 1994 đạt 9,475%. Năm 1993, GDP Trung Quốc đạt 581,1 tỷ USD (xếp thứ 7 thế giới); tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 195,7 tỷ USD (tăng 8,6 lần so với năm 1978). Đến năm 1994, kim ngạch ngoại thương đạt 236 tỷ USD (xuất khẩu 121 tỷ USD, nhập khẩu 115,7 tỷ USD, xuất siêu 5,3 tỷ USD). Cơ cấu GDP dịch chuyển tích cực: tỷ trọng công nghiệp tăng từ 48,63% (1978) lên 51,76% (1993), dịch vụ tăng từ 22,97% lên 27,05%, nông nghiệp giảm từ 28,38% xuống 21,19%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống mức 1,1% (năm 1994), tỷ lệ dân số thành thị tăng từ 19% (1960) lên 28% (1992), và ngân sách nhà nước chi cho xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội tăng từ 1,8 tỷ NDT (1978) lên 7,52 tỷ NDT (1993). Đại hội XIV (1992) và XV (1997) chính thức khẳng định mô hình kinh tế thị trường XHCN, công nhận đất đai, lao động, tiền tệ là hàng hóa.
Khái quát quan hệ song phương thập niên 1990: Sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Nhật Bản là nước phương Tây đầu tiên phá vỡ thế bao vây cô lập Trung Quốc bằng chuyến thăm của cựu Thủ tướng Takeshita (9/1990) và tuyên bố nối lại đợt viện trợ thứ 3 (11/1990). Tháng 10 năm 1992, Nhật Hoàng Akihito lần đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc, công khai bày tỏ sự tiếc nuối sâu sắc trước những đau khổ mà quân phiệt Nhật đã gây ra trong quá khứ. Tuy nhiên, quan hệ xấu đi nghiêm trọng vào năm 1994 khi Bộ trưởng Tư pháp Nagano phát ngôn phủ nhận vụ thảm sát Nam Kinh (sau đó bị cách chức), Tokyo cấp thị thực cho Du Lập Đức (Phó viện trưởng Viện Hành chính Đài Loan) dự Asiad Hiroshima (10/1994) và Trung Quốc liên tiếp thử vũ khí hạt nhân. Tokyo đáp trả bằng việc đóng băng viện trợ không hoàn lại năm tài khóa 1996 (chỉ giữ lại 500 triệu Yên cung cấp vắc-xin bại liệt). Bắc Kinh phản công ngoại giao bằng "lá bài lịch sử", yêu cầu bồi thường 20 triệu Yên/người cho 41 gia đình nạn nhân chiến tranh. Mối quan hệ được khôi phục từ năm 1997 khi Thủ tướng Hashimoto Ryutaro đưa ra sáng kiến môi trường thế kỷ XXI. Năm 1998, Chủ tịch Giang Trạch Dân thăm Nhật Bản, xác lập khuôn khổ "đối tác hợp tác hữu nghị vì hòa bình và phát triển" với 33 chương trình hợp tác. Tháng 7 năm 1999, Thủ tướng Obuchi Keizo thăm Trung Quốc, ủng hộ Bắc Kinh gia nhập WTO và lập "Quỹ Obuchi" 10 tỷ Yên tài trợ trồng rừng.
Số liệu viện trợ phát triển chính thức (ODA) Nhật Bản dành cho Trung Quốc giai đoạn 1990 - 1999 thể hiện sự can dự kinh tế sâu sắc nhưng cũng là công cụ kiềm chế chiến lược:
| Năm tài chính |
Viện trợ có hoàn lại (trăm triệu Yên) |
Viện trợ không hoàn lại (trăm triệu Yên) |
Hợp tác kĩ thuật (trăm triệu Yên) |
| 1990 |
1.225,24 |
69,17 |
64,88 |
| 1991 |
1.296,07 |
66,54 |
68,58 |
| 1992 |
1.373,28 |
82,37 |
78,70 |
| 1993 |
1.387,43 |
98,82 |
87,41 |
| 1994 |
1.403,42 |
79,27 |
99,50 |
| 1995 |
1.414,29 |
4,81 |
108,01 |
| 1996 |
1.705,11 |
26,70 |
116,55 |
| 1997 |
2.029,06 |
68,09 |
129,56 |
| 1998 |
2.062,55 |
60,65 |
148,84 |
| 1999 |
1.926,37 |
50,65 |
160,74 |
Ghi chú: Đợt viện trợ thứ tư được áp dụng theo công thức "3+2", trong đó giai đoạn 1996 - 1998 giải ngân 580 tỷ Yên và giai đoạn 1999 - 2000 giải ngân 390 tỷ Yên cho 28 dự án.
Bước sang thế kỷ XXI, quan hệ hai nước chịu tác động trực tiếp từ cuộc cách mạng công nghệ thông tin và toàn cầu hóa kinh tế, sự trỗi dậy của 11 nước lớn (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Ý, Canada, Ấn Độ, Brazil - chiếm 1/3 diện tích, hơn 1/4 dân số và 70% GDP thế giới) và các thách thức toàn cầu (phá rừng 21,5 triệu ha/phút, biến đổi khí hậu, năng lượng, già hóa dân số). Trung Quốc bước vào thế kỷ mới đối mặt với các khó khăn nội tại gay gắt: nhập khẩu dầu thô liên tục từ năm 1993, 7/10 thành phố ô nhiễm nghiêm trọng, năm 2000 có 7 vạn ha đất nông nghiệp bạc màu, lưu lượng nước vùng Tây Bắc sụt giảm 70% làm thiệt hại 10 tỷ NDT, người cao tuổi trên 60 tuổi chiếm 10% và trên 65 tuổi chiếm 7% trên tổng dân số hơn 1,3 tỷ người.
Chương II: Quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc từ 2001 đến 2010
Chương trọng tâm này khảo sát chi tiết diễn biến quan hệ song phương trên các phương diện chính trị, ngoại giao, an ninh và kinh tế.
Về chính trị và ngoại giao: Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, bối cảnh an ninh toàn cầu xáo trộn. Thủ tướng Nhật Bản Koizumi Junichiro nhậm chức và thực hiện cải cách kinh tế, đồng thời thăm Đông Nam Á nhằm mở rộng ảnh hưởng thông qua ý tưởng FTA Nhật - ASEAN. Ngày 15 tháng 11 năm 2001, cuộc gặp cấp cao ba bên Trung - Nhật - Hàn diễn ra tại Bandar Seri Begawan (Brunei) mở ra cơ chế đối thoại an ninh Đông Bắc Á. Năm 2002 đánh dấu 30 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao với các sự kiện "Năm văn hóa Nhật Bản" tại Trung Quốc và "Năm văn hóa Trung Quốc" tại Nhật Bản. Trưởng Ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Lý Bằng thăm Nhật Bản, trong khi cựu Thủ tướng Murayama và Hashimoto cùng Tổng Thư ký LDP Yamazaki sang thăm Bắc Kinh.
Tuy nhiên, mối quan hệ chính trị dưới thời Thủ tướng Koizumi lâm vào tình trạng đóng băng ("kinh tế nóng, chính trị lạnh") do ông liên tục thăm đền Yasukuni - nơi thờ 14 tội phạm chiến tranh loại A của Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng tranh cãi về việc sửa đổi sách giáo khoa lịch sử tại Nhật Bản. Căng thẳng được giải tỏa khi ông Abe Shinzo lên nhậm chức Thủ tướng Nhật Bản vào tháng 9 năm 2006. Phá vỡ tiền lệ truyền thống của các tân thủ tướng Nhật (vốn ưu tiên thăm Mỹ đầu tiên), ông Abe đã chọn Trung Quốc là điểm công du nước ngoài đầu tiên nhằm thực hiện chuyến đi "phá băng". Tháng 4 năm 2007, Thủ tướng Ôn Gia Bảo thăm chính thức Tokyo trong 3 ngày, được ghi nhận là chuyến công du "làm tan băng". Hai bên thỏa thuận thành lập Hội đồng Bộ trưởng định kỳ, thống nhất phối hợp giải quyết vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, đổi lại Nhật Bản tìm kiếm sự ủng hộ của Trung Quốc để trở thành Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Tiếp đó, Thủ tướng Fukuda Yasuo với đường lối thân thiện hơn đã thăm Trung Quốc vào cuối năm 2007. Lễ kỷ niệm 35 năm bình thường hóa quan hệ được tổ chức long trọng tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh vào ngày 28 tháng 9 năm 2007 với thông điệp của Ủy viên Quốc vụ Đường Gia Tiềm: "Xem lịch sử là tấm gương để đi tới tương lai".
Về hợp tác kinh tế: Quan hệ kinh tế duy trì vị trí trụ cột vững chắc bất chấp các bất đồng chính trị. Kim ngạch mậu dịch hai chiều tăng trưởng vượt bậc, đạt ngưỡng xấp xỉ 100 tỷ USD/năm ngay trong những năm đầu thập niên và tiếp tục mở rộng. Về viện trợ, nguồn vốn ODA Nhật Bản (bao gồm vốn vay ưu đãi có hoàn lại, viện trợ không hoàn lại và các chương trình hợp tác kỹ thuật) đóng vai trò then chốt trong xây dựng kết cấu hạ tầng, sân bay, bến cảng và chuyển giao công nghệ xử lý môi trường tại Trung Quốc. Tuy nhiên, tính chất phụ thuộc lẫn nhau chuyển dịch căn bản: Trung Quốc từ vai trò tiếp nhận đầu tư và viện trợ đã từng bước vươn lên thành công xưởng thế giới và là thị trường tiêu thụ sống còn của các tập đoàn sản xuất Nhật Bản, đỉnh điểm là sự kiện quy mô nền kinh tế Trung Quốc vượt qua Nhật Bản vào năm 2009.
Chương III: Một số nhận định quan hệ Nhật - Trung từ năm 2001 đến 2010
Chương cuối cùng tổng kết các nét đặc trưng, bài học kinh nghiệm và dự báo xu thế vận động:
- Đặc điểm cốt lõi: Mối quan hệ mang tính nhị nguyên sâu sắc, đan xen chặt chẽ giữa trạng thái "vừa hợp tác, vừa cạnh tranh" và đặc trưng điển hình "kinh tế nóng, chính trị lạnh". Lợi ích kinh tế ràng buộc hai bên phải duy trì đối thoại ngay cả khi lòng tin chính trị ở mức thấp nhất.
- Các nhóm nhân tố tác động:
- Nhân tố cản trở: Nhận thức lịch sử chiến tranh chưa đồng thuận; các chuyến viếng thăm đền thờ Yasukuni; tranh chấp chủ quyền biển đảo; sự khác biệt về thể chế chính trị và mâu thuẫn trong liên minh quân sự Nhật - Mỹ đối trọng với tham vọng trỗi dậy quân sự của Trung Quốc.
- Nhân tố thúc đẩy: Sự phụ thuộc kinh tế sâu rộng về thị trường, nguồn nhân lực, vốn và chuỗi cung ứng công nghệ; nhu cầu duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nội địa; áp lực phối hợp giải quyết các vấn đề an ninh khu vực (như vấn đề hạt nhân Triều Tiên) và ứng phó các thách thức toàn cầu.
- Bài học kinh nghiệm: Tác giả chỉ ra rằng để duy trì quan hệ láng giềng bền vững, hai nước cần thực hiện 3 bước đi chiến lược: kiểm soát các lực lượng chính trị cánh hữu và giới vận động hành lang nông nghiệp bảo hộ tại Nhật Bản; gác lại định kiến lịch sử để hướng đến tương lai; xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ nhằm củng cố lòng tin chiến lược cấp cao.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu của khóa luận mang lại các kết quả học thuật cụ thể:
- Làm rõ cấu trúc thực chứng của dòng vốn ODA Nhật Bản cấp cho Trung Quốc từ năm 1990 đến năm 1999 (năm 1990 đạt 1.225,24 trăm triệu Yên viện trợ có hoàn lại; năm 1998 đạt 2.062,55 trăm triệu Yên; đợt 4 ODA triển khai theo cơ chế "3+2" với tổng ngân sách 970 tỷ Yên).
- Trình bày hệ thống số liệu phát triển kinh tế của Trung Quốc trong giai đoạn cải cách: tốc độ tăng GDP bình quân 1979 - 1994 đạt 9,475%; quy mô ngoại thương 1994 đạt 236 tỷ USD; mốc biến chuyển năm 2009 khi Trung Quốc chính thức lấy mất vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới mà Nhật Bản đã nắm giữ hơn 40 năm.
- Phân tích các bước chuyển biến ngoại giao mang tính bước ngoặt: sự kiện Thủ tướng Shinzo Abe phá lệ công du Trung Quốc tháng 9 năm 2006 mở đường cho chuyến đi "làm tan băng" của Thủ tướng Ôn Gia Bảo tháng 4 năm 2007.
- Đóng góp tự thân: Tác giả tự đánh giá khóa luận đã góp phần hệ thống hóa toàn diện các sự kiện ngoại giao và số liệu kinh tế giữa Nhật Bản và Trung Quốc trong thập niên đầu thế kỷ XXI dưới lăng kính của một sinh viên sư phạm lịch sử, tạo nguồn tư liệu tham khảo phục vụ giảng dạy phần lịch sử quan hệ quốc tế đương đại tại các trường trung học phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn thực tế xuất phát từ điều kiện nghiên cứu:
- Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu khai thác từ tài liệu tiếng Việt, sách dịch và các bài viết trên tạp chí trong nước; chưa tiếp cận trực tiếp các nguồn văn kiện ngoại giao gốc bằng tiếng Nhật hoặc tiếng Hán.
- Số liệu kinh tế, ngoại giao và an ninh giai đoạn cuối (2008 - 2010) chưa được phân tích sâu sắc và chi tiết bằng giai đoạn trước, do độ trễ trong quá trình xuất bản các tài liệu chuyên khảo tại Việt Nam vào thời điểm đầu năm 2011.
- Hướng mở tiếp theo: Nghiên cứu tác động của việc Trung Quốc vượt Nhật Bản về quy mô kinh tế sau năm 2010 đối với cán cân quyền lực tại Đông Á; khảo sát chi tiết hơn các điểm nóng tranh chấp lãnh hải và chiến lược an ninh biển trong giai đoạn từ năm 2011 trở đi.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Thế giới, Quan hệ Quốc tế và Đông phương học.
Nội dung đặc biệt có giá trị tham khảo bao gồm:
- Bảng tổng hợp số liệu chi tiết về ba hợp phần viện trợ ODA (vốn vay, viện trợ không hoàn lại, hợp tác kỹ thuật) của Nhật Bản dành cho Trung Quốc trong thập niên 1990.
- Tiến trình xử lý khủng hoảng ngoại giao song phương giai đoạn 2006 - 2007 từ trạng thái "phá băng" sang "làm tan băng".
- Hệ thống dữ liệu lịch sử về quá trình cải cách kinh tế của Trung Quốc (từ Hội nghị Trung ương 3 khóa XI năm 1978 đến Đại hội XV năm 1997).
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận chỉ ra nguyên nhân trực tiếp nào khiến nền kinh tế Nhật Bản suy thoái nghiêm trọng vào đầu thập niên 1990?
Tác giả xác định nguyên nhân chính là do sự đổ vỡ của "nền kinh tế bong bóng" (vốn dựa trên đầu tư địa ốc và chứng khoán bị đẩy giá quá cao), kết hợp với việc đồng Yên tăng giá đột ngột (từ mức 1 USD đổi 133 Yên cuối năm 1991 lên 1 USD đổi 80 Yên năm 1995, tăng 40% trong 4 năm), làm suy giảm nghiêm trọng sức cạnh tranh quốc tế và gây ra hiện tượng "rỗng ruột" nền sản nghiệp nội địa.
Bốn nguyên tắc mà Nhật Bản đưa ra năm 1992 nhằm sử dụng vốn ODA để kiềm chế Trung Quốc là gì?
Bốn nguyên tắc viện trợ được Nhật Bản ban hành gồm:
- Giám sát khuynh hướng chi tiêu quân sự của nước nhận viện trợ.
- Kiểm soát hoạt động thu gom, chế tạo các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và hỏa tiễn đạn đạo.
- Theo dõi khuynh hướng xuất nhập khẩu vũ khí.
- Thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa, chuyển đổi sang kinh tế thị trường và đảm bảo nhân quyền, tự do cơ bản.
Phương thức viện trợ ODA theo công thức "3+2" trong đợt viện trợ thứ 4 của Nhật Bản cho Trung Quốc được phân bổ như thế nào?
Do khó khăn tài chính và áp lực chính trị trong nước, Nhật Bản không cam kết gói viện trợ dài hạn 5 - 6 năm như trước mà chia làm hai kỳ: 3 năm đầu (1996 - 1998) cam kết giải ngân 580 tỷ Yên; 2 năm sau (1999 - 2000) hai bên đàm phán giải ngân 390 tỷ Yên cho 28 dự án (gồm 16 dự án môi trường và 4 dự án nông nghiệp), nâng tổng vốn cả đợt lên mức 970 tỷ Yên.
Chuyến thăm nào được xem là sự kiện "phá băng" và sự kiện "làm tan băng" trong quan hệ Nhật - Trung giai đoạn 2006 - 2007?
Chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 9 năm 2006 của tân Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (ngay sau khi nhậm chức, phá vỡ quy tắc ưu tiên thăm Mỹ) được xem là chuyến đi "phá băng". Chuyến thăm đáp lễ của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tới Tokyo vào tháng 4 năm 2007 được xem là chuyến đi "làm tan băng", mở đường cho việc thành lập cơ chế đối thoại cấp bộ trưởng định kỳ giữa hai chính phủ.
Mốc thời gian nào đánh dấu sự hoán đổi vị trí kinh tế giữa Nhật Bản và Trung Quốc được nêu trong khóa luận?
Năm 2009 là thời điểm mang tính bước ngoặt lịch sử, khi nền kinh tế Trung Quốc chính thức vươn lên vị trí thứ hai trên thế giới về quy mô GDP, chiếm lấy vị thế mà Nhật Bản đã nắm giữ liên tục trong hơn 40 năm kể từ năm 1986.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Chu Thị An đã khái quát có hệ thống tiến trình vận động đầy biến động của quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc trong thập niên 2001 - 2010 trên cơ sở đối chiếu với bối cảnh lịch sử thập niên 1990. Nghiên cứu làm sáng tỏ tính chất phức hợp của mối quan hệ nước lớn Đông Bắc Á: phụ thuộc sâu sắc về kinh tế, thương mại nhưng thường xuyên mâu thuẫn về an ninh, chủ quyền và nhận thức lịch sử. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử và phân tích số liệu thực chứng, công trình đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đặt ra và mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác giảng dạy lịch sử quan hệ quốc tế.