phần mở đầu, công trình khái quát về lưu vực sông Mekong, cơ chế hoạt động của MRC và Hiệp định Mekong 1995. Ở phần nội dung, công trình tập trung nghiên cứu các vấn đề xã hội, hạ tầng giao thông, nguồn nước – việc sử dụng nước và môi trường. Phần cuối của là kết quả được các chuyên gia MRC thu thập từ các trạm quan trắc khí tượng thủy văn ở lưu vực sông Mekong. Sự tổng hợp số liệu trong hàng chục năm đã giúp tài liệu có đủ cơ sở khoa học để đưa ra những đánh giá toàn diện và sát thực với hiện trạng lưu vực sông Mekong.
Tác giả sử dụng một số bản đồ và số liệu thống kê về vấn đề sử dụng nước ở Hạ nguồn sông Mekong từ công trình này. Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội ở khu vực sông Mekong - Các công trình nghiên cứu về các cơ chế hợp tác ở khu vực sông Mekong Năm 1963, công trình The Lower Mekong Challenge to Cooperation in Southeast Asia của hai học giả là C. Hart Schaaf và Russell H. Fifield đã được xuất bản tại nhiều nhiều quốc gia trên thế giới (New Jersey (Mỹ), London (Anh), Melbourne (Úc), Toronto (Canada)).
Công trình gồm hai phần. Phần đầu được viết bởi Russell H. Fifield – giáo sư ngành Khoa học Chính trị của Đại học Michigan. Fifield khái quát điều kiện địa lý tự nhiên, xã hội ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong và ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài (gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, Anh, Pháp) đến khu vực.
Ông cũng phác thảo một bức tranh tổng quan về chính trị khu vực qua các thời kỳ tiền thuộc địa, thời kỳ thuộc địa (1887- 1945), thời kỳ 1945-1954. Phần hai của công trình này được viết bởi C. Hart Schaaf – chuyên viên của tổ chức ECAFE (UN). Hart Schaaf khái quát quá trình thực dân Pháp phát triển hệ thống thủy vận, thủy lợi trên sông Mekong và các cơ chế hợp tác quốc tế đầu tiên liên quan đến khai thác nguồn nước sông Mekong ở khu vực.
Trong phần phụ lục, công trình này đã 12 trích dẫn toàn văn Tuyên bố thành lập Ủy ban sông Mekong (MC) vào ngày 17/09/1957, với 6 chương và 8 điều. Công trình này đã có cung cấp cho luận án một số tư liệu quan trọng về sông Mekong, hợp tác quốc tế ở khu vực Hạ nguồn trong thời kỳ Liên bang Đông Dương và tổ chức Ủy ban sông Mekong (MC). Năm 2012, ADB công bố Overview Greater Mekong Subregion: Economic Cooperation Program. Công trình này gồm bốn phần chính: (1) Khái quát về Chương trình Hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng; (2) Cơ cấu tổ chức; (3) Các lĩnh vực hợp tác trong GMS gồm: nông nghiệp, năng lượng, môi trường, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư, viễn thông, du lịch, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các điều kiện thuận lợi trong thương mại và giao thông vận tải; (4) các chương trình phát triển (tính đến năm 2012).
Với nội dung trên, tài liệu này đã cung cấp cho luận án cơ cấu tổ chức, các lĩnh vực và chương trình hoạt động của GMS. Năm 2016, MRC cho xuất bản công trình 20 Years of Cooperation. Công trình này đã phục dựng chặng đường 20 năm hợp tác giữa bốn nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam trong tổ chức MRC trong giai đoạn 1995-2015. Phần đầu của công trình nêu khái quát lịch sử hợp tác giữa bốn nước Hạ nguồn sông Mekong.
Phần nội dung tập trung đánh giá kết quả hợp tác trong MRC ở một số lĩnh vực cơ bản, gồm: quản lý giao thông thủy, phát triển thủy điện, quản lý nghề cá, quản lý lũ lụt ở lưu vực. Công trình này đã dành 2 trang để đánh giá hợp tác Việt Nam – Campuchia trong giao thông thủy và hợp tác giữa Việt Nam với Thái Lan trong phát triển nghề cá. Tuy không đề cập đến tất cả lĩnh vực hoạt động của MRC, song với phạm vi thời gian nghiên cứu 20 năm, công trình này giúp luận án nhận diện bao quát một số lĩnh vực hợp tác chủ đạo trong khu vực. - Các công trình nghiên cứu đề cập đến về các lĩnh vực hợp tác riêng lẻ Xét về quan hệ kinh tế, đáng lưu ý là các nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) về hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, du lịch, giao thông vận tải, đầu tư, thương mại… trong GMS.
Trong lĩnh vực năng lượng, năm 2016, ADB công bố công trình Great Mekong Subregion: Energy sector assessment, strategy and road map. Trong lĩnh vực giao thông vận tại, ADB công bố các tài liệu Transport and Trade Facilitation in the Greater Mekong Subregion Time to Shift Gears (2008), Great Mekong Subregion Cross-Border Transport Facilitation Agreement: Instrument and Drafting History (2011), Trade and Trade 13 Facilitation in the Greater Mekong Subregion (2012). Trong lĩnh vực du lịch, ADB công bố Tourism Sector in the Greater Mekong Subregion (2008), Greater Mekong Subregion Tourism Sector Assessment, Strategy and Road map (2011), Tourism Sector Assessment, Strategy and Road map for Cambodia, Lao People’s Democratic Republic, Myanmar, and Vietnam (2016- 2018) (2017). Các nghiên cứu trên đã cung cấp những đánh giá, nhận định từ các chuyên gia của ADB về các lĩnh vực hợp tác, các giai đoạn triển khai và sự tác động của các dự án đến tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực sông Mekong.
Các vấn đề xã hội nổi bật ở trong khu vực Hạ nguồn sông Mekong như việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, các thách thức do biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và an ninh nguồn nước… cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của một số học giả nước ngoài. Về vấn đề nguồn nhân lực ở các nước trong khu vực sông Mekong, ADB đã công bố các tài liệu nghiên cứu Strengthen human resource development Cooperation in the Greater Mekong Subregion (2007), Strategic Framework and Action Plan for Human Resource Development in the Greater Mekong Subregion (2009-2012) (2009), Strategic Frameword and Action Plan for Human resource development in Greater Mekong Subregion (2013 – 2017) (2013). Các công trình này đã cung cấp các số liệu cụ thể để đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của khu vực sông Mekong. Các báo cáo cũng chỉ ra những thách thức to lớn về chênh lệch trình độ phát triển, sự già hóa dân số, sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cosslett và Patrick D. Cosslett đã cho xuất bản tại Phần Lan công trình Water Resources and Food Security in the Vietnam Mekong Delta. Chuyên khảo này gồm có 6 chương, được chia thành hai phần, đề cập trực tiếp đến vùng ĐBSCL của Việt Nam. Phần một (gồm 3 chương) giới thiệu toàn cảnh vùng ĐBSCL và phân tích về hiện trạng nguồn nước (khảo sát trong phạm vi nghề trồng lúa và nuôi trồng thủy sản trong vùng), chỉ ra những thách thức to lớn từ việc biến đổi khí hậu và xây dựng các con đập ở thượng nguồn.
Phần hai đề cập trực tiếp đến tiến trình hình thành tổ chức Ủy ban sông Mekong (MC) (1957) cho đến việc ra đời tổ chức Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) (1995). Trong chương 6, chương cuối của chuyên khảo, các tác giả phân tích về cơ chế, chương trình hành động, nguyên tắc hợp tác của MRC trong 15 năm (1995-2010). Trong chương này, các tác giả đã chỉ ra những thách thức mà MRC phải đối mặt, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu, tác động từ các con đập trên 14 dòng chính sông Mekong của Trung Quốc và dự án đập Xayaburi của Lào. Trong phần kết luận, công trình này nêu lên thách thức mà vùng ĐBSCL phải đối mặt trong tương lai, đặc biệt là hai vấn đề an ninh lương thực và an ninh nguồn nước.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nước ngoài đã cung cấp cho luận án một số tư liệu để đánh giá tổng quan khu vực sông Mekong nói chung và Hạ nguồn sông Mekong nói riêng, nổi bật là các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Hầu hết các công trình chỉ đề cập về hợp tác trong các cơ chế đa phương và không lấy Việt Nam làm chủ thể cho mối quan hệ như đối tượng nghiên cứu của luận án. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Các công trình nghiên cứu tổng quan về khu vực sông Mekong Trong các nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến khu vực sông Mekong, công trình Có một vùng văn hóa Mekong (Nxb.
Khoa học xã hội, 2007) của Giáo sư Phạm Đức Dương đã tiếp cận khu vực này dưới góc độ văn hóa. Tác giả đã khẳng định đặc trưng cơ bản trong không gian văn hóa Mekong là sự thống nhất trong đa dạng, từ văn hóa trồng lúa, ngôn ngữ, tộc người cho đến cơ cấu xã hội, phong tục tập quán, lễ hội. Tác giả nhận định: “sông Mekong như là mạch sông chính nối tất cả các nước Đông Nam Á lục địa thành một vùng văn hóa đồng nhất trong sự khác biệt” (tr. Công trình này đã cung cấp cho tác giả luận án một số tư liệu về đặc điểm của khu vực Hạ nguồn sông Mekong.
Nhắc đến các nghiên cứu về khu vực sông Mekong ở Việt Nam không thể không nhắc đến Phạm Khắc – Mê Kông ký sự – Phim và ảnh (Nxb. Công trình này gồm 650 tấm ảnh được chọn lọc từ hơn 20.000 tấm ảnh mà Nghệ sĩ nhân dân Phạm Khắc đã chụp trong các chuyến đi thực tế sáu nước ở Tiểu vùng Mekong. Dưới ngòi bút của Trần Đức Tuấn, bức tranh về dòng chảy, quy mô hệ thống sông Mekong, những cảnh quan đặc sắc cùng với kiến thức về lịch sử - văn hóa - địa lý của các vùng đất, các nền kinh tế ven sông đã được tái hiện sinh động, chân thực qua 495 trang sách. Tham khảo công trình này, luận án có các tư liệu về hệ thống sông Mekong cũng như những tác động của dòng sông đến đời sống kinh tế - xã hội của các nước ở Hạ nguồn.
Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ song phương 15 Nghiên cứu quan hệ song phương của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong, các học giả Việt Nam đã cho ra mắt một số công trình về quan hệ của Việt Nam với các nước Thái Lan, Lào và Campuchia. Về quan hệ Việt Nam – Thái Lan Trong Thư tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam Á – phần Xiêm (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, ban Đông Nam Á, 1977), tác giả Nguyễn Lệ Thi đã sưu tầm từ Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Việt sử thông giám cương mục… các đoạn tư liệu viết về Xiêm, trong đó cũng có rải rác các phần viết về quan hệ Đại Việt – Xiêm trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa.