Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ODA VÀ THU HÚT VỐN ODA 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguồn và đối tượng cung cấp ODA 1. Lịch sử phát triển ODA trên thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ II, hầu hết các quốc gia tham gia chiến tranh đều bị thiệt hại hết sức nng nề và đều phải nhanh chóng tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế. Tuy nhiên, khôi phục kinh tế đối với những quốc gia bị thiệt hại trong chiến tranh không thể ch dựa vào nội lực mà còn cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Từ những lý do đó, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức đã ra đi cùng kế hoạch Marshall nhằm hỗ trợ các nước Châu Âu phục hồi kinh tế, đc biệt là phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá. Các nước châu Âu để tiếp nhận được các nguồn hỗ trợ này đều đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế toàn diện và lập kế hoạch thành lập t chức hợp tác kinh tế châu Âu, hiện nay là OECD. Ngày 14 tháng 12 năm 1960, 20 nước châu Âu đã chnh thức ký hiệp định t chức kinh tế và phát triển OECD (Organization for Economic Cooperation and Development). Hiệp định này chính thức có hiệu lực từ năm 1961 và sau đó có thêm 4 nước là Nhật Bản, Niudilân, Phần Lan và Australia.
Trong khuôn kh hợp tác phát triển, các nước thành viên OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn trong đó có Ủy ban viện trợ phát triển DAC (Development Assistance Committee) để hỗ trợ các nước đang phát triển. Sau đó, khái niệm về một chính sách viện trợ giúp các nước đang phát triển phục hồi nền kinh tế đã ra đi với tên gọi: Hỗ trợ phát triển chính thức (Official development assistance), được gọi tắt là ODA. Ngay từ đầu những năm 1950, phần đông các nước công nghiệp lớn đều viện trợ cho các nước đang phát triển. Tnh đến năm 1980, Mỹ đã viện trợ cho các nước hơn 180 tỷ USD và là nước tài trợ lớn nhất thi k đó.
Ngoài ra cn có các nước viện trợ lớn khác như Pháp, Na Uy, Thuỵ Điển,… Liên Xô c, Trung Quốc và các nước Đông Âu cng cung cấp các khoản viện trợ tới các nước XHCN kém phát triển và một phần tới Trung Đông. Tng viện trợ từ các nước XHCN từ năm 1947 tới năm 1980 là 24 tỷ USD. Năm 1970, để việc hỗ trợ các nước đang phát triển được tiến hành một cách đồng bộ và hiệu quả, đồng thi mang tính bắt buộc đối với các nước phát triển, lần 7 đầu tiên Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chnh thức thông qua Nghị quyết trong đó quy định ch tiêu ODA bằng 0,7% GNP (tng sản phẩm quốc gia) của các nước phát triển. Theo quyết định này, các nước phát triển sẽ phấn đấu đạt ch tiêu trên vào năm 1985 hoc muộn nhất vào cuối thập kỷ 80, và đạt 1% GNP vào năm 2000.
Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện nghĩa vụ này của các nước là rất khác nhau. Số liệu năm 1990 cho thấy một số nước thực hiện bằng hoc vượt mức quy định này như Đan Mạch (0,96%), Thuỵ Điển (0,92%), Hà Lan (0,88% GNP) trong khi một số nước giàu như Mỹ ch trích có 0,17% GNP, Nhật Bản là 0,33% GNP,. Những năm gần đây, không ch có các nước công nghiệp phát triển mà còn có một số nước đang phát triển cng bắt đầu cung cấp ODA như Ả Rập Xê út, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,. Nhìn chung, ODA đã giúp nhiều nước kém phát triển có được những bước tiến rõ rệt và vững chắc.
Điển hình là Nhật Bản, sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế Nhật Bản kiệt quệ vì chiến tranh, nhưng cho đến nay Nhật Bản đã tr thành một trong số những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới và vốn ODA chính là một yếu tố quan trọng đóng góp cho thành công của Nhật Bản. Nguồn vốn này còn phát huy hiệu lực nhiều quốc gia khác trên thế giới như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia,. Không nằm ngoài xu hướng phát triển chung của thế giới, Việt Nam cng đang cố gắng thu hút nguồn vốn ODA để phát triển nền kinh tế đất nước và coi đây là một nguồn lực quan trọng đc biệt cho việc phát triển cơ s hạ tầng nhằm đưa nền kinh tế tăng trưng vượt bậc. Do đó, chúng ta cần tìm hiểu rõ bản chất của ODA, ưu điểm và nhược điểm của nó để có thể thu hút một cách có hiệu quả nhất.
Khái niệm về ODA Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới đã có nhiều quan điểm khác nhau về ODA: Trước đây, ODA được coi là một nguồn viện trợ ngân sách của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển, với quan điểm này ODA mang tính chất cho không là chủ yếu. Ngày nay trong hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế đã hình thành nên một quan điểm hoàn toàn mới về ODA. Quan điểm này cho rằng ODA là “một hình thức hợp tác phát triển” của các nước đã công nghiệp hoá và các t chức quốc tế với các nước đang và chậm phát triển. Theo quan điểm này, ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại và các 8 khoản vốn vay với điều kiện ưu đãi của Chính phủ các nước, các t chức quốc tế và các t chức phi Chính phủ cho các nước đang và chậm phát triển.
Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát trển chính thức (Official Development Assistance- ODA) là hình thức chuyển giao nguồn vốn (tiền tệ, công nghệ…) từ các nước công nghiệp phát triển, từ các t chức tài chính quốc tế (WB, IMF, ADB,…) các t chức của hệ thống Liên hiệp quốc, các t chức phi Chính phủ (NGO) gọi chung là các đối tác tài trợ nước ngoài cho các nước đang và chậm phát triển gọi chung là bên tiếp nhận tài trợ. Ở Việt Nam, Chính phủ quy định “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)” là một hình thức hợp tác phát triển giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, các t chức quốc tế liên Chính phủ, các t chức phi Chính phủ. Đặc điểm cơ bản của ODA Tuy nhiên dù hiểu theo bất cứ định nghĩa nào, ODA cng có những đc điểm chung sau: - Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA, nhưng thông thưng danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ.
- Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi. Tuy vậy, nếu quản lý, sử dụng vốn ODA không hiệu quả vẫn có nguy cơ để lại gánh nng nợ nần trong tương lai. - Các nước nhận vốn ODA phải hội tụ đủ một số điều kiện nhất định mới được nhận tài trợ, điều kiện này tu thuộc từng nhà tài trợ. - Chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu tư vào cơ s hạ tầng như: Giao thông vận tải, giáo dục, y tế,.
- Các nhà tài trợ là các t chức viện trợ đa phương (gồm các t chức thuộc T chức Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các t chức phi Chính phủ IMF, WB, ADB,.) và các t chức viện trợ song phương như các nước thuộc T chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, các nước đang phát triển như Ả Rập xê-út, Tiểu vương quốc Arập, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc. Các nước cung cấp viện trợ nhiều nhất hiện nay là Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Australia, Thuỵ Điển. 9 * Các tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA: Tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA thưng được xác định trên cơ s tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, trong đó các tiêu chuẩn cơ bản chủ yếu nhất là GDP tnh theo đầu ngưi và khả năng trả nợ của quốc gia đó. Thông thưng những nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu ngưi một năm thấp hơn mức tối thiểu mới có đủ tiêu chuẩn để vay ODA.
Mức tối thiểu này được điều chnh theo thi gian và tu vào chính sách của từng t chức tài trợ. Ví dụ, năm 1996 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) quy định mức thu nhập bình quân tối thiểu là 851 USD/ngưi, đối với Ngân hàng Thế giới con số này là 1. * Các điều kiện và thời hạn vay ODA: Các khoản vay ODA dành cho các nước nghèo, kém phát triển thưng có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất, thi hạn trả vốn lâu, thi gian ân hạn dài. Ví dụ như thi gian hoàn trả vốn của Nhật Bản là 30 năm, của ADB và WB là 40 năm, lãi suất của ADB là 1%/năm, của WB là 0,75%/năm, thi gian ân hạn là 10 năm,.
Nếu cán cân thanh toán và tình hình kinh tế của nước đi vay được cải thiện một cách đáng kể thì thi hạn các khoản vay có thể được điều chnh nhằm thể hiện những thay đi to lớn trong tình hình kinh tế của từng nước. Tuy nhiên, nếu sự điều chnh đó làm nền kinh tế của quốc gia vay vốn bị bất n thì có thể điều chnh lại. Phân loại ODA 1. Theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận: - Theo nguồn cung cấp: Có 2 loại: + ODA song phương: Là viện trợ phát triển chính thức của Chính phủ nước này dành cho Chính phủ nước kia.
Hiện nay, trong số các nước cung cấp ODA song phương, Nhật Bản và Mỹ là những nước dẫn đầu thế giới. + ODA đa phương: Là viện trợ phát triển chính thức của một t chức quốc tế (như: Ngân hàng phát triển Châu Á, Liên minh Châu Âu,.) hoc của Chính phủ một nước dành cho Chính phủ một nước khác nhưng được thực hiện thông qua các t chức đa phương như Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) hay Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF),. - Theo nơi tiếp nhận : Nếu phân loại theo nước tiếp nhận ODA, có thể chia ODA làm 2 loại: 10 + ODA thông thưng: Là hỗ trợ cho nước có thu nhập bình quân đầu ngưi thấp. + ODA đc biệt: Là hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thi hạn cho vay ngắn, lãi suất cao hơn so với ODA thông thưng.
Theo tính chất: Thông thưng ODA gồm 2 phần: Phần không hoàn lại và phần hoàn lại với điều kiện ưu đãi (lãi suất thấp, thi gian ân hạn dài,.