phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác Quản lý quỹ hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại Tuyên Quang Chƣơng 2: Thực trạng công tác Quản lý quỹ hỗ trợ cho Thanh niên khởi nghiệp tại Tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao kết quả hoạt động Quản lý Quỹ hỗ trợ cho Thanh niên khởi nghiệp tại Tỉnh Tuyên Quang. Quan niệm về Khởi nghiệp 1.Khái niệm về khởi nghiệp Khởi nghiệp là cụm từ đƣợc nhắc đến rất nhiều trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về khởi nghiệp.
Khởi nghiệp có thể là quá trình tạo ra một lĩnh vực hoạt động mới cho riêng mình. Qua đó những ngƣời khởi nghiệp có thể thuê các nhân viên về làm việc cho bạn và bạn là ngƣời quản lý công ty, doanh nghiệp của mình. Khởi nghiệp mang lại rất nhiều giá trị cho bản thân cũng nhƣ nhiều lợi ích cho xã hội, cho ngƣời lao động. Hay khởi nghiệp cũng đƣợc hiểu là những dự án kinh doanh mang tính sáng tạo, có thể có tốc độ tăng trƣởng cao cùng với rủi ro lớn, thƣờng đòi hỏi một khoản tài trợ lớn từ bên ngoài.
Đối với cá nhân theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê. Họ đƣợc tự do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ có thể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại. Đối với xã hội và nền kinh tế thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm. Điều này giúp đất nƣớc giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho ngƣời lao động nuôi sống bản thân và gia đình.
Bằng việc tạo ra lƣợng lớn công ăn việc làm cho ngƣời lao động, giữ tỉ lệ thất nghiệp của nền kinh tế ở mức an toàn, khởi nghiệp thành công gián tiếp góp phần ổn định xã hội, giảm thiểu các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra nhƣ trộm cắp, bài bạc, đua xe, ma túy. Khởi nghiệp cũng góp phần giảm áp lực lên nền kinh tế, trợ cấp xã hội, đƣa đất nƣớc ngày càng phát triển 1. Khái niệm tinh thần khởi nghiệp Tinh thn khi nghip (entrepreneurship) còn đƣợc gọi là tinh thần doanh nhân khởi nghiệp, là một thuật ngữ xuất hiện khá lâu trên thế giới. Hình thức rõ ràng nhất của tinh thần doanh nhân khởi nghiệp là bắt đầu xây dựng những doanh nghiệp mới”.
Tổng quát, có thể nói tinh thần khởi nghiệp là tinh thần đổi mới, sáng tạo. Và trong những năm gần đây có một khái niệm khởi nghiệp rất “hot” khác ra đời, đó là Startup: 6 - Ban đầu thut ng Startup thƣờng đƣợc dùng với nghĩa hẹp để chỉ các hoạt động khởi nghiệp về công nghệ. Do thành công của một ngành công nghiệp mới - công nghệ thông tin trong giai đoạn 1990s và đây là ngành mới phát triển gắn mật thiết với sự đổi mới và sáng tạo. - Theo thời gian khái niệm Startup không chỉ dùng cho ngành công nghệ mà dùng trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề.
- Quc gia khi nghip (start-up nation). Quốc gia khởi nghiệp đƣợc hiểu nhƣ là tinh thần khởi nghiệp của một quốc gia trẻ mà bản thân nó lúc nào cũng trong giai đoạn khởi nghiệp, là nơi có rất nhiều startup và doanh nhân khởi nghiệp nhƣ Israel, Singapore hay Hoa Kỳ. Các yu ti nghip: Là khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh; thái độ chấp nhận rủi ro; và ý tƣởng đổi mới - sáng tạo. Các nhà nghiên cứu đã đƣa ra một số a tinh thn khi nghip là:(i) Có hoài bão và khát vọng kinh doanh;(ii) Có khả năng kiến tạo cơ hội kinh doanh;(iii) Độc lập và dám làm, dám chịu trách nhiệm;(iv) Phát triển ý tưởng sáng tạo và đổi mới phương pháp giải quyết vấn đề; (v) Bền bỉ và dám chấp nhận rủi ro, thất bại; và vi) Có đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.
Từ đó, có thể thấy động cơ chủ đạo của ngƣời khởi nghiệp trƣớc hết là muốn khẳng định bản thân và sau đó là muốn đóng góp cho xã hội, còn động cơ vì tiền, vì sự giàu có chỉ là thứ yếu. Quan niệm về quản lý, đặc điểm và chức năng mục tiêu quản lý 1. Quan niệm về quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau nên quan niệm về quản lý giữa các nhà nghiên cứu, các học giả và những nhà thực tiễn cũng khác nhau: Là ngƣời đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình, ông Henry Fayol cho rằng: quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu, lập kế hoạch, tổ chức, phân công và điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu để ra. Có thể thấy quản lý là sự tác động có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trƣớc.
Hệ thống quản lý bao gồm: chủ thể quản lý, đối tƣợng bị quản lý và bộ máy quản lý, giữa chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý có mối liên hệ với nhau bằng các dòng thông tin. Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức lãnh đạo và kiểm soát hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra. Theo đó các công 7 việc hoạch định, tổ chức lãnh đạo và kiểm soát phải đƣợc thực hiện theo một trình tự nhất định, những hoạt động này còn đƣợc gọi là các chức năng quản lý 1. Đặc điểm của quản lý - Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến Khi con ngƣời cùng tham gia hoạt động với nhau thì tất yếu phải có tác nhân quản lý nếu muốn đạt tới trật tự và hiệu quả.
Chính vì vậy, hoạt động quản lý tồn tại nhƣ một tất yếu ở mọi loại hình tổ chức khác nhau. - Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người. Thực chất quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong quản lý là quan hệ giữa chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) và đối tƣợng quản lý (ngƣời bị quản lý). Trong khi các hoạt động cụ thể của con ngƣời là quan hệ giữa chủ thể với đối tƣợng của nó thì trong hoạt động quản lý dù ở lĩnh vực hay cấp độ nào cũng là sự biểu hiện mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời.
- Quản lý là tác động có ý thức Chủ thể quản lý tác động tới đối tƣợng quản lý là những con ngƣời thực hiện để điều khiển hành vi, phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Vì vậy, tác động quản lý của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý là tác động có ý thức, nghĩa là tác động bằng tình cảm, dựa trên cơ sở tri thức khoa học và bằng ý chí. - Quản lý là tác động bằng quyền lực Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trên cơ sở các công cụ, phƣơng tiện và cách thức tác động nhất định. Tuy nhiên, khác với các hoạt động khác, hoạt động quản lý chỉ có thể tồn tại nhờ ở yếu tố quyền lực.
Quyền lực là nhân tố giúp cho chủ thể quản lý tác động tới đối tƣợng quản lý để điều kiển hành vi của họ. - Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực Thông qua tác động có ý thức, bằng quyền lực theo quy trình mà hoạt động quản lý mới có thể phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài tổ chức. Các nguồn lực đƣợc phối hợp bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực và trí lực. - Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung Hoạt động quản lý ngoài việc thỏa mãn nhu cầu riêng của chủ thể thì điều đặc biệt quan trọng là phải đáp ứng lợi ích của đối tƣợng.
Tuy nhiên, trong thực tiễn quản lý, không phải bao giờ mục tiêu chung cũng đƣợc thực hiện một cách triệt để. - Quản lý là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Tính khoa học của hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ các nguyên tắc quản lý, phƣơng pháp quản lý, các chức năng của quy trình quản lý và các quyết định 8 quản lý phải đƣợc xây dựng trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm mà nhà quản lý có đƣợc thông qua quá trình nhận thức và trải nghiệm trong thực tiễn. Chức năng của quản lý * Hoạch định: là chức năng đầu tiên trong tiến trình quản lý, bao gồm việc xác định mục tiêu hoạt động, xây dựng chiến lƣợc tổng thể đạt mục tiêu và thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động, hoạch định liên quan đến dự báo và tiên lƣợng tƣơng lai, những mục tiêu cần đạt đƣợc và những phƣơng thức để đạt đƣợc mục tiêu đó. Nếu không lập kế hoạch thận trọng và đúng đắn thì dễ dẫn đến thất bại trong quản lý.
* Tổ chức: là chức năng thiết kế cơ cấu, tổ chức công việc và tổ chức nhân sự cho một tổ chức. Công việc này bao gồm xác định những việc phải làm, ngƣời nào phải làm, phối hợp hoạt động ra sao, bộ phận nào đƣợc hình thành, quan hệ giữa các bộ phận đƣợc thiết lập thế nào và hệ thống quyền hành trong tổ chức đó đƣợc thiết lập ra sao? * Lãnh đạo: một tổ chức bao giờ cũng gồm nhiều ngƣời, mỗi một cá nhân có cá tính riêng, hoàn cảnh riêng và vị trí khác nhau. Nhiệm vụ của lãnh đạo là phải biết động cơ và hành vi của những ngƣời dƣới quyền, biết cách động viên điều khiển, lãnh đạo những ngƣời khác, chọn lọc những phong cách lãnh đạo phù hợp với những đối tƣợng và hoàn cảnh cùng sở trƣờng của ngƣời lãnh đạo, nhằm giải quyết các xung đột giữa các thành phần, thắng đƣợc sức ỳ của các thành viên trƣớc những thay đổi. * Kiểm tra: Sauk hi đề ra những mục tiêu, xác định những kế hoạch, vạch rõ việc xếp đặt cơ cấu, tuyển dụng và huấn luyện, động viên nhân sự, công việc còn lại vẫn còn có thế thất bại nếu không kiểm tra.