CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VAY HỖ TRỢ THANH NIÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN VAY HỖ TRỢ THANH NIÊN PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về vốn và vốn vay *. Khái niệm vốn Theo quan điểm của K.
Marx, vốn là tư bản, mà tư bản được hiểu là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Như vậy, hiểu một cách thông thường, vốn là toàn bộ giá trị vật chất được doanh nghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn có thể là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ được qua thời gian sản xuất kinh doanh cũng có thể là những của cải mà thiên nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản [1]… Theo quan điểm này, vốn gồm hai loại là: - Vốn cố định: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận sản xuất kinh doanh ứng ra để hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, có đặc điểm là tham gia nhiều chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm.
Tài sản cố định khi tham gia vào quá trình sản xuất không bị thay đổi hình thái ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn cùng với giá trị của nó cũng giảm đi [1]. - Vốn lưu động: Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận vốn sản xuất kinh doanh ứng ra để mua sắm và hình thành tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách thường xuyên liên tục. Tái sản lưu động của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm [1]. Theo quan điểm của một số chuyên gia tài chính tại Việt Nam, vốn là tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được thành tiền có thể sử dụng trong kinh doanh [3].
Khả năng sử dụng được trong kinh doanh là tiêu chí cơ bản để đánh giá 5 tiền, tài sản, quyển tài sản trị giá được thành tiền có giá trị là vốn. Đối với tiền phải tích tụ đến mức nhất định thì mới có thể sử dụng trong kinh doanh với tư cách là vốn. Đối với tài sản nếu chỉ thuần tuý có giá trị và giá trị sử dụng mà không có khả năng chuyển đổi thành tiền và sử dụng trong kinh doanh thì cũng không có giá trị là vốn. Đối với các quyền tài sản, nếu không có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để hoạch toán trong kinh doanh thì không thể dùng để đầu tư nên cũng không được xem là vốn.
Vốn là tiền đề để thực hiện các hoạt động đầu tư. * Khái niệm vốn vay Vốn vay là vốn hình thành từ việc đi vay, đến thời hạn định trước phải hoàn trả cho người cho vay. Vốn vay của một chủ thể được hình thành thông qua các quan hệ tín dụng. Tùy thuộc vào tư cách chủ thể mà tổ chức, cá nhân có thể tham gia nhiều loại quan hệ tín dụng để hình thành vốn vay như kí hợp đồng tín dụng, phát hành trái phiếu.
Đặc trưng cơ bản của vốn vay là tính hoàn trả và đền bù. Tính hoàn trả của vốn vay thể hiện ở nghĩa vụ hoàn trả của chủ sở hữu nó đối với người đã chuyển giao vốn. Khi hết thời hạn sử dụng vốn vay, chủ sở hữu vốn phải hoàn trả lại cho người đã chuyển giao vốn cho mình ngoài nợ gốc phải kèm theo lợi tức tín dụng là thể hiện tính có đền bù của vốn vay. Nghĩa vụ phải hoàn trả làm cho quyền sở hữu đối với vốn vay thuộc loại quyền sở hữu có điều kiện.
Hiểu theo quan điểm này, vốn vay có có những tính chất quan trọng sau: - Là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. - Vốn vay bao giờ cũng có thời hạn và phải được “hoàn trả”. - Giá trị của vốn vay không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức thu được từ quá trình cho vay. Khái niệm về hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế Theo Kết luận số 03-KL/TWĐ-TNNT ngày 30/10/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa XI: Hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế là các hoạt động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ thanh niên làm kinh tế, cổ vũ, khuyến khích thanh niên lập thân, lập nghiệp; hăng hái thi đua lao động sản xuất, vươn lên làm giàu, góp sức trẻ xây dựng quê hương, đất nước, thông qua các hoạt động hỗ trợ, chương trình đào tạo, tập huấn, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn, kết nối giao thương, tiêu thụ sản phẩm, tư vấn chính sách, pháp lý…[26].
Hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế bao gồm các nội dung cụ thể: - Hỗ trợ thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật. - Hỗ trợ vay vốn. - Kết nối giao thương, tiêu thụ sản phẩm. - Tư vấn chính sách, pháp lý.
- Hoạt động truyền cảm hứng, cổ vũ, động viên thanh niên mạnh dạn, tự tin làm kinh tế; phát hiện, hỗ trợ và nhân rộng các mô hình thanh niên làm kinh tế hiệu quả. Khái niệm về vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế Theo hướng dẫn về nghiệp vụ cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội: Vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế là nguồn vốn được huy động từ các chương trình tín dụng nhằm mục đích hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, hỗ trợ thanh niên tạo dựng, mở rộng, phát triển các mô hình kinh tế của bản thân và gia đình [5]. Hiện nay vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế do tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh triển khai gồm 2 loại là vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm (QQGVVL) và nguồn vốn ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH). Quy định các nguồn vốn vay này được quy định cụ thể tại 7 Hướng dẫn số 8055/NHCS-TDSV ngày 30/10/2019 của Ngân hàng Chính sách xã hội về hướng dẫn nghiệp vụ cho vay, cụ thể: * Đối tượng được vay: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh do đoàn viên, thanh niên làm chủ.
* Điều kiện được vay vốn: - Được thành lập và hoạt động hợp pháp; Có tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của Pháp luật. - Có dự án vay vốn khả thi tại địa phương, phù hợp với ngành, nghề sản xuất kinh doanh, duy trì hoặc thu hút thêm lao động vào làm việc ổn định; - Dự án vay vốn phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi thực hiện dự án; * Mức vay vốn - Mức vay tối đa là 02 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. - Mức vay cụ thể do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét căn cứ vào nguồn vốn, chu kỳ sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với đối tượng vay vốn. * Lãi suất cho vay - Lãi suất cho vay chung bằng lãi suất cho vay đối với hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật về tín dụng đối với hộ cận nghèo (7.
- Đối với các trường hợp sau đây được cho vay với mức lãi suất bằng 50% lãi suất cho vay theo quy định của pháp luật về tín dụng đối với hộ cận nghèo: Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật hoặc từ 30% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số hoặc sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số. - Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay. * Thời hạn cho vay 8 Thời hạn cho vay tối đa 120 tháng. Thời hạn vay cụ thể do NHCS XH xem xét căn cứ vào nguồn vốn, chu kỳ sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với đối tượng vay vốn.
* Điều kiện đảm bảo tiền vay Đối với mức vay từ 100 triệu đồng trở lên, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm và các quy định hiện hành của NHCSXH. Khái niệm về công tác quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế Theo một số chuyên gia về tài chính, quản lý vốn là việc chính quyền, tổ chức, cá nhân sử dụng tổng thể các biện pháp, công cụ tác động vào quá trình phân bổ và sử dụng vốn cho hoạt động nào đó nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định. Công tác quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế là một quá trình tổng thể, bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, hướng dẫn và kiểm tra việc cho vay vốn và sử dụng vốn vay hỗ trợ thanh niên về việc làm, tạo dựng, mở rộng, phát triển các mô hình kinh tế của bản thân và gia đình, nhằm mục đưa nguồn vốn tín dụng đến đúng đối tượng được thụ hưởng là thanh niên, công tác vay vốn diễn ra thuận lợi, an toàn, nhanh chóng, giảm thời gian giao dịch tín dụng, tiết kiệm chi phí đi lại của đối tượng được vay [15]. Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế 1.
Công tác lập kế hoạch vốn vay Căn cứ vào kế hoạch tín dụng, Chi nhánh ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Hải Phòng kết hợp với Thành đoàn Hải Phòng tiến hành khảo sát nhu cầu vốn vay của các đối tượng thanh niên nhằm xây dựng kế hoạch hỗ trợ, cho vay. Đồng thời rà soát nhu cầu vốn theo từng chương trình tại mỗi địa phương để cân đối với kế hoạch thu nợ hàng tháng, kịp thời báo cáo, điều chỉnh nguồn vốn cho vay giữa các chương trình tín dụng chính sách, điều 9 chỉnh chỉ tiêu kế hoạch giữa các đơn vị cho phù hợp với tình hình thực tế.