Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số: 9340412.01) của tác giả Hoàng Thị Hải Yến, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021, có tiêu đề: "Xây dựng khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp (startup) ở Việt Nam" dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh và TS. Phạm Phi Anh.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của nền kinh tế tri thức và hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên quy mô toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Kể từ năm 2016 – năm được chọn là "Năm quốc gia khởi nghiệp", Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" (Đề án 844), và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017. Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các hoạt động đánh giá chính sách khởi nghiệp hiện tại chủ yếu dừng ở mức báo cáo tổng kết tiến độ chương trình, dự án, hoặc lồng ghép trong các chỉ số đo lường môi trường kinh doanh tổng quát. Cả về lý luận lẫn thực tiễn, chưa có một khung đánh giá chuyên biệt, hệ thống để thẩm định và rà soát hiệu quả của các chính sách thúc đẩy đối tượng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (startup).
Mục tiêu tổng quát của luận án là xây dựng một khung đánh giá tổng quát chính sách thúc đẩy khởi nghiệp, bao gồm hệ tiêu chí và các chỉ báo nhằm xem xét, đánh giá và đề xuất khuyến nghị hoàn thiện hệ thống chính sách thúc đẩy khởi nghiệp của Việt Nam.
Năm mục tiêu cụ thể gồm:
- Làm rõ bản chất của khởi nghiệp (startup), các nhu cầu khác biệt của đối tượng khởi nghiệp, các thành phần và đặc điểm của hệ sinh thái khởi nghiệp;
- Làm rõ cách tiếp cận xây dựng khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp;
- Xem xét và học hỏi kinh nghiệm trong đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp tại một số quốc gia;
- Đề xuất bộ tiêu chí và các chỉ báo đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp;
- Áp dụng khung đánh giá chính sách đã được đề xuất để tiến hành đánh giá một số chính sách thúc đẩy khởi nghiệp ở Việt Nam nhằm gợi ý khuyến nghị cho quá trình hoàn thiện chính sách.
Vấn đề nghiên cứu được xác định là: "Khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp ở Việt Nam cần được xây dựng theo các tiêu chí cốt lõi nào?".
Giả thuyết nghiên cứu của luận án: Khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp ở Việt Nam cần được xây dựng dựa trên các nhu cầu và vai trò khác biệt của đối tượng tác động bởi chính sách là khởi nghiệp (startup); theo đó, năm tiêu chí cốt lõi cần xác định là: (1) Khích lệ sáng tạo và tinh thần kinh thương; (2) Hỗ trợ startup; (3) Thúc đẩy liên kết trong hệ sinh thái khởi nghiệp; (4) Không tạo ra các rào cản pháp lý và hành chính cho khởi nghiệp; (5) Thúc đẩy hội nhập thị trường quốc tế.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào việc xây dựng khung đánh giá tổng quát chính sách thúc đẩy khởi nghiệp, thiết lập hệ tiêu chí, chỉ báo và áp dụng đánh giá thực tiễn chính sách Việt Nam.
- Đối tượng nghiên cứu: Các lý thuyết tác động tới việc xây dựng khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp; hệ tiêu chí và chỉ báo của khung đánh giá; cách thức áp dụng khung đánh giá vào thực tiễn chính sách.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế theo ba chủ đề chính:
Về bản chất khởi nghiệp và các yếu tố thúc đẩy: Khái niệm kinh tế tri thức được OECD (1999a) xác định như một học thuyết phát triển mới. Các nghiên cứu của Wright và cộng sự (2007), Rasmussen và cộng sự (2008, 2012) phân tích các doanh nghiệp dựa trên khoa học (Science-based entrepreneurial firms - SBEFs) như phương thức thương mại hóa sáng chế từ trường đại học. Carland và cộng sự (1984), Bollinger, Hope và Utterback (1983) cùng Eric Ries (2011) khẳng định bản chất của startup là tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động sáng tạo, gắn liền với mức độ bất định và rủi ro cao. Gal Nachum (2015) phân loại startup thành 4 nhóm dựa trên 3 nhu cầu: nhân lực, kinh doanh, và công nghệ (trong đó loại hình đáp ứng công nghệ tại thị trường mới đòi hỏi nhiều tác nhân dẫn dắt nhất). Peter Thiel và Blake Masters (2014) trong tác phẩm Zero to One nhấn mạnh vai trò của startup công nghệ trong việc tạo ra cái mới từ 0 đến 1 thay vì sao chép từ 1 đến n. Jongtaik Lee và cộng sự (2016) xác định startup là "Trung tâm đổi mới" bên cạnh các tổ chức chuyển giao công nghệ (TTO), vườn ươm, và nhà đầu tư. Samir Rath và Teodora Georgieva (2014) đặt vấn đề startup công nghệ cần hướng tới giải quyết các vấn đề lớn của xã hội thay vì chỉ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.
Về các yếu tố thúc đẩy khởi nghiệp: Nhóm yếu tố bên trong gồm người sáng lập, văn hóa khởi nghiệp và tài sản trí tuệ (Nesheim, 2000; Marmer và cộng sự, 2011). Nhóm yếu tố bên ngoài gồm:
- Ươm tạo: Isabelle (2013), Scillitoe và Chakrabarti (2010), Bosma và Stam (2012), Susan L. Cohen, Scott Dempwolf và cộng sự (2014) làm rõ sự khác biệt giữa vườn ươm (Incubator), doanh nghiệp tăng tốc (Accelerator, tiêu biểu là mô hình Y Combinator do Paul Graham sáng lập năm 2005) và nhà đầu tư thiên thần (Angel Investor).
- Tài chính: OECD (1997, 2004b), Gompers và Josh Lerner (1999), Gil Avnimelech và Morris Teubal (2004, 2006 với bài học từ hai chương trình Inbal và Yozma của Israel), World Bank (2010a), Josh Lerner và cộng sự (2015), Cvijanović và cộng sự (2008), Čalopa, Horvat và Lalić (2014) phân tích các kênh vốn từ truyền thống (3F, ngân hàng, vốn mồi) đến đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) theo vòng đời doanh nghiệp.
- Liên kết viện, trường đại học và nền công nghiệp: Nelson (1959), Roberts (1968), Cooper (1971), Audretsch và Lehmann (2005), Bercovitz và Feldman (2006), Gail Edmondson (2012), Rothaermel và cộng sự (2007 nghiên cứu về Đạo luật Bayh-Dole). Tác giả tổng hợp sự khác biệt giữa doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) và doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) dựa trên nghiên cứu của Dorf (2005), Djokovic và Souitaris (2008), Bathelt và cộng sự (2010):
| Điểm so sánh |
Doanh nghiệp khởi nguồn (Spin-off) |
Doanh nghiệp khởi nghiệp (Startup) |
| Chủ thể thành lập |
Trường đại học, viện nghiên cứu, công ty công nghệ |
Cá nhân (sinh viên, giảng viên) trong hoặc ngoài trường viện, doanh nghiệp |
| Nguồn gốc công nghệ |
Sở hữu bởi trường đại học, viện nghiên cứu, công ty mẹ |
Mua li-xăng công nghệ hoặc tự phát triển sáng tạo công nghệ |
| Vốn đầu tư ban đầu |
Từ trường đại học, viện nghiên cứu, công ty mẹ |
Huy động từ bên ngoài (nhà đầu tư cá nhân, mạo hiểm, vốn tự có) |
| Đội ngũ quản lý |
Các nhà nghiên cứu, nhân sự của tổ chức mẹ |
Các sáng lập viên độc lập, nhân sự bên ngoài tổ chức nghiên cứu |
- Vai trò chính phủ và hệ sinh thái: Viện Ngoại thương Ấn Độ (2007), UNCTAD (2011), Mian (2011), OECD (2015, 2016), Isenberg (2010), Brad Feld (2012), Tan Chiew Seng Sean (2015), David Osimo (2016) nghiên cứu các can thiệp chính sách và cấu trúc hệ sinh thái tại các quốc gia.
Về các nghiên cứu trong nước: Các công trình của Đào Thanh Trường, Trần Văn Hải, Vũ Cao Đàm và đặc biệt là số liệu đề tài khoa học công nghệ cấp quốc gia mã số KNDMST.09-17 của Phạm Hồng Quất (2020) đã phân tích thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình nghiên cứu hiện có chỉ tiếp cận chính sách khởi nghiệp từ góc độ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc phân tích cấu phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo một cách định tính. Thiếu vắng một công trình thiết lập khung lý luận đánh giá toàn diện, đưa ra bộ tiêu chí cốt lõi và các chỉ báo định lượng, định tính phản ánh đặc thù rủi ro, khả năng mở rộng của startup để đo lường mức độ tác động của các văn bản chính sách tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các cơ sở lý luận và cách tiếp cận liên ngành trong khoa học quản lý khoa học và công nghệ:
- Tiếp cận hệ thống: Vận dụng lý thuyết hệ thống để nhìn nhận hệ sinh thái khởi nghiệp và hệ thống chính sách thúc đẩy như một cấu trúc tương tác đa thành phần giữa Nhà nước, trường đại học/viện nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian.
- Tiếp cận khoa học hành vi: Giải thích hành vi của các nhà đầu tư thiên thần và thành viên quỹ đầu tư mạo hiểm; hành vi này không hoàn toàn tối đa hóa lợi nhuận tài chính ngắn hạn mà hướng tới mục tiêu đưa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào ứng dụng sản xuất kinh doanh, chấp nhận tỷ lệ thất bại cao.
- Tiếp cận đổi mới sáng tạo: Phân tích quá trình chuyển hóa tri thức và công nghệ theo cơ chế thị trường, phân định ranh giới giữa doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp kinh doanh truyền thống.
- Khung chu trình chính sách ROAMEF (Rationale, Objectives, Appraisal, Monitoring, Evaluation, Feedback) và quy trình đánh giá chính sách công để xác định vị trí, vai trò của việc thẩm định, giám sát và đánh giá chính sách trong thực tế quản lý.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện qua các kỹ thuật:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân loại và phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (gồm các Luật, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của các Bộ ngành liên quan từ năm 2005 đến năm 2019) và văn bản pháp luật quốc tế (JOBS Act 2012 và International Entrepreneur Rule 2016 của Hoa Kỳ; các đạo luật hỗ trợ tài chính công nghệ của Hàn Quốc năm 2002 và 2011).
- Phương pháp quan sát không tham dự: Quan sát độc lập trạng thái hoạt động tự nhiên của hệ sinh thái khởi nghiệp, tương tác giữa các vườn ươm, trường đại học, viện nghiên cứu, không gian làm việc chung (co-working space) và trung tâm chuyển giao công nghệ tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia về khởi nghiệp, chuyên gia nghiên cứu và đánh giá chính sách, cán bộ quản lý vườn ươm, viện nghiên cứu, trường đại học và các sáng lập viên startup. Công cụ sử dụng là bảng hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc, kết hợp máy ghi âm, biên bản gỡ băng, tập trung vào bản chất startup, nhu cầu hỗ trợ, các tiêu chí đánh giá và rào cản chính sách hiện hữu.
- Phương pháp thảo luận nhóm chuyên gia: Tổ chức các hội nghị bàn tròn (Roundtable) để lấy ý kiến phản biện từ các nhà quản lý, nhà nghiên cứu chính sách thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, các vườn ươm và doanh nghiệp về bộ tiêu chí đánh giá và nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập từ 20 cuộc phỏng vấn sâu và các hội thảo chuyên gia; dữ liệu thứ cấp trích xuất từ đề tài cấp quốc gia mã số KNDMST.09-17 của Phạm Hồng Quất (2020), các báo cáo của Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ, các cơ sở dữ liệu quốc tế từ OECD, World Bank.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về xây dựng khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nội dung lớn: (1) Bản chất của khởi nghiệp và các yếu tố thúc đẩy khởi nghiệp; (2) Chính sách thúc đẩy khởi nghiệp; (3) Khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp.
Tác giả phân tích các luận điểm quốc tế về kinh doanh tri thức, vai trò của spin-off và startup trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Chương này đúc kết rằng các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra 5 nhóm yếu tố tác động bên ngoài tới startup (ươm tạo, tài chính, liên kết viện trường - doanh nghiệp, vai trò chính phủ, hệ sinh thái) và 2 nhóm yếu tố bên trong (năng lực nhà sáng lập, tài sản trí tuệ).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã bước đầu định danh hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, nhận diện vai trò của các vườn ươm và chính sách hỗ trợ vốn. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra điểm thiếu hụt căn bản: chưa có công trình nào thiết kế một khung đánh giá chuyên biệt dành cho các văn bản chính sách thúc đẩy khởi nghiệp dựa trên chu trình chính sách và các thuộc tính vận hành đặc thù của startup.
Chương 2. Cơ sở lý luận về xây dựng khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng: chính sách, đánh giá chính sách, chu trình chính sách ROAMEF, khái niệm và đặc trưng của khởi nghiệp (startup). Luận án phân định startup là loại hình doanh nghiệp dựa trên đổi mới sáng tạo, có tiềm năng tăng trưởng theo cấp số nhân nhưng đối mặt với rủi ro thất bại cao, khác với các doanh nghiệp nhỏ và vừa truyền thống (chú trọng tính ổn định, tăng trưởng tuyến tính).
Tác giả phân tích vòng đời phát triển của startup qua các giai đoạn (thử nghiệm/vốn mồi, khởi đầu, tăng trưởng/mở rộng, và thoái vốn/bán cổ phần) cùng các nhu cầu tương ứng về cơ sở vật chất, vốn đầu tư mạo hiểm, kết nối thị trường và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Từ việc xem xét hệ sinh thái khởi nghiệp và cơ chế tác động của chính sách, luận án đề xuất bộ tiêu chí cốt lõi của Khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp gồm 5 tiêu chí:
- Khích lệ sáng tạo và tinh thần kinh thương;
- Hỗ trợ startup;
- Thúc đẩy liên kết trong hệ sinh thái khởi nghiệp;
- Không tạo ra các rào cản pháp lý và hành chính cho khởi nghiệp;
- Thúc đẩy hội nhập thị trường quốc tế.
Chương 3. Thực tiễn xây dựng khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp ở Việt Nam
Chương 3 khái quát thực trạng hoạt động khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2015–2019, ghi nhận sự hình thành các vườn ươm, không gian làm việc chung, các quỹ đầu tư quốc tế và trong nước.
Tác giả rà soát hệ thống chính sách thúc đẩy khởi nghiệp đã ban hành: Nghị quyết số 35/NQ-CP, Đề án 844, Đề án 1665 ("Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025"), Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Nghị định số 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, cùng các văn bản hướng dẫn chuyển giao công nghệ và định giá tài sản trí tuệ (Thông tư liên tịch 39/2014/TTLT-BKHCN-BTC, Thông tư 15/2014/TT-BKHCN).
Đánh giá thực trạng cho thấy hoạt động đánh giá chính sách ở Việt Nam còn mang tính hình thức, thiếu công cụ đo lường chuyên biệt. Tác giả phân tích chi tiết tình hình thực thi các chính sách chuyên đề:
- Phát triển hệ sinh thái: Chưa có sự kết nối thực chất giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với cộng đồng doanh nghiệp;
- Quỹ phi lợi nhuận: Điển hình là Quỹ Khởi nghiệp Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Startup Vietnam Foundation - SVF) thành lập theo Quyết định số 1286/QĐ-BNV năm 2014, nhưng quy mô còn hạn chế;
- Gọi vốn cộng đồng (Crowdfunding): Hoàn toàn thiếu vắng hành lang pháp lý;
- Đầu tư thiên thần và đầu tư mạo hiểm: Nghị định số 38/2018/NĐ-CP đặt ra giới hạn tối đa 30 nhà đầu tư cho một quỹ khởi nghiệp sáng tạo và quỹ không có tư cách pháp nhân, gây cản trở huy động vốn;
- Sử dụng tài sản trí tuệ góp vốn: Thủ tục định giá kết quả nghiên cứu có nguồn gốc ngân sách còn phức tạp, rủi ro pháp lý cho nhà khoa học cao.
Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm đánh giá và can thiệp chính sách từ Hoa Kỳ (JOBS Act 2012 cho phép gọi vốn cộng đồng bằng cổ phần), Israel (chương trình Yozma với tỷ lệ đồng đầu tư của Nhà nước), Hàn Quốc (Bộ Khoa học, CNTT và Quy hoạch tương lai - MISP, chương trình K-Startup Grand Challenge), Singapore và Đài Loan (cấp visa khởi nghiệp, cơ chế đăng ký kinh doanh trực tuyến rút ngắn thời gian).
Chương 4. Xây dựng và áp dụng khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp ở Việt Nam
Chương 4 hoàn thiện cấu trúc Khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp và xác lập quy trình áp dụng thông qua thang đo 4 mức độ (Mức 0: Không tồn tại chính sách; Mức 1: Chính sách đang soạn thảo/mới ban hành; Mức 2: Chính sách đang thực hiện nhưng kém hiệu quả; Mức 3: Chính sách đang thực hiện hiệu quả) kết hợp thang đo 7 điểm.
Tác giả áp dụng khung này để đánh giá hệ thống chính sách thúc đẩy khởi nghiệp của Việt Nam (tổng hợp từ Phụ lục 6 của luận án):
| Tiêu chí cốt lõi |
Nhóm chính sách thành phần |
Mục tiêu chính sách được đo lường |
Văn bản chính sách hiện hành tại Việt Nam |
Thực trạng đánh giá theo khung |
| 1. Khả năng khích lệ sáng tạo và tinh thần kinh thương |
- Chính sách giáo dục và đào tạo - Chính sách nghiên cứu khoa học - Chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu - Chính sách văn hóa khởi nghiệp |
- Thay đổi nhận thức người học qua môn học đổi mới, kinh doanh - Khích lệ nghiên cứu trong môi trường giáo dục - Gắn kết sáng tạo với thương mại hóa - Hình thành văn hóa khởi nghiệp |
- Nghị quyết 35/NQ-CP - Đề án 1665 (QĐ 1665/QĐ-TTg) - Đề án 844 (QĐ 844/QĐ-TTg) - Luật Hỗ trợ DNNVV 2017 - Nghị định 80/2007/NĐ-CP - Nghị định 16/2015/NĐ-CP - Luật KH&CN 2013, Luật Chuyển giao công nghệ 2017, Luật Sở hữu trí tuệ |
Mới dừng ở mức 1 và mức 2: Đào tạo khởi nghiệp còn mang tính phong trào; quy định phân chia lợi nhuận và định giá kết quả nghiên cứu từ ngân sách (TT 15/2014, TTLT 39/2014) còn phức tạp, làm giảm động lực thương mại hóa. |
| 2. Khả năng hỗ trợ doanh nghiệp startup |
- Chính sách hỗ trợ ươm tạo - Chính sách tài chính - Chính sách thông tin - Chính sách thị trường - Chính sách mạng lưới hỗ trợ và dịch vụ |
- Ươm tạo tiền khởi nghiệp - Hình thành nguồn vốn mồi, quỹ mạo hiểm - Xóa bỏ bất đối xứng thông tin - Phát triển sàn giao dịch công nghệ, mạng lưới tư vấn |
- Quyết định 1383/QĐ-BKHCN (Mô hình Thung lũng Silicon - VSV) - Thông tư 16/2014/TT-BKHCN về tổ chức trung gian thị trường KH&CN - Chương trình 592, Chương trình 2075 - Nghị định 38/2018/NĐ-CP, Nghị định 118/2015/NĐ-CP - Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) |
Mức độ hoạt động thấp (Mức 1 - Mức 2): Thiếu cơ chế tài chính mạo hiểm thực chất; Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia chủ yếu cho vay với tiêu chí chặt chẽ, khó tiếp cận với startup; chưa có hành lang cho gọi vốn cộng đồng. |
| 3. Khả năng kết nối các thành phần trong hệ sinh thái |
- Chính sách tạo dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp |
- Tạo nền tảng pháp lý và hạ tầng kết nối - Thúc đẩy liên kết giữa viện trường, vườn ươm, nhà đầu tư |
- Quyết định 844/QĐ-TTg (Đề án 844) - Kế hoạch của các Bộ ngành, địa phương triển khai Đề án 844 |
Mức 1: Đề án 844 bước đầu xây dựng các mạng lưới nhưng cơ chế phối hợp liên ngành còn yếu, thiếu cơ sở dữ liệu chung kết nối các thành phần hệ sinh thái. |
| 4. Khả năng không tạo ra rào cản pháp lý và hành chính |
- Cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp khởi nghiệp |
- Giảm thiểu thủ tục, thời gian đăng ký kinh doanh, giải thể, phá sản - Đơn giản hóa thủ tục đầu tư, phát hành cổ phiếu (IPO), thoái vốn |
- Quyết định 09/2015/QĐ-TTg (cơ chế một cửa) - Nghị định 19/2016/NQ-CP, Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử - Quyết định 225/QĐ-TTg về cải cách hành chính 2016-2020 - Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư |
Mức 2: Thủ tục đăng ký thành lập và thoái vốn cho nhà đầu tư mạo hiểm còn rườm rà; thiếu cơ chế xử lý phá sản nhanh cho startup thất bại; quy định về chào bán cổ phần chưa phù hợp đặc thù tăng vốn nhanh của startup. |
| 5. Khả năng hỗ trợ hội nhập thị trường quốc tế |
- Chính sách hội nhập cho khởi nghiệp |
- Hỗ trợ startup mở rộng ra thị trường nước ngoài - Thu hút nhân lực và dòng vốn khởi nghiệp từ nước ngoài |
- Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 về phát triển KH&CN phục vụ hội nhập quốc tế |
Mức 0 - Mức 1: Chưa có cơ chế thị thực (Startup Visa) cho doanh nhân ngoại; thiếu mạng lưới xúc tiến thương mại quốc tế chuyên biệt cho sản phẩm đổi mới sáng tạo; luân chuyển dòng vốn đầu tư xuyên biên giới còn nhiều rào cản quản lý ngoại hối. |
Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, luận án đề xuất 5 nhóm khuyến nghị, giải pháp hoàn thiện chính sách:
- Nhóm giải pháp khích lệ sáng tạo và tinh thần kinh thương: Đưa nội dung giáo dục đổi mới sáng tạo vào chương trình đại học; ban hành cơ chế chuyển giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ tạo ra từ ngân sách cho tổ chức chủ trì;
- Nhóm giải pháp nâng cao khả năng hỗ trợ startup: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho đầu tư mạo hiểm và gọi vốn cộng đồng; mở rộng phạm vi tài trợ của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia sang hình thức tài trợ vốn mồi;
- Nhóm giải pháp thúc đẩy liên kết hệ sinh thái: Chỉ định cơ quan đầu mối cấp quốc gia chịu trách nhiệm kết nối mạng lưới cố vấn (mentor) và các tổ chức trung gian;
- Nhóm giải pháp xóa bỏ rào cản pháp lý và hành chính: Đơn giản hóa thủ tục thành lập, chuyển nhượng cổ phần, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục giải thể, phá sản cho startup;
- Nhóm giải pháp nâng cao khả năng hội nhập thị trường toàn cầu: Xây dựng chính sách cấp visa khởi nghiệp cho doanh nhân quốc tế và triển khai mạng lưới kết nối thị trường toàn cầu cho startup Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án vận dụng tiếp cận hệ thống và tiếp cận khoa học hành vi để làm rõ bản chất kinh doanh tri thức, nhu cầu đặc thù và chu kỳ phi tuyến tính của startup, đồng thời phân định ranh giới giữa doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) và doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học (spin-off).
- Xây dựng thành công Khung đánh giá tổng quát chính sách thúc đẩy khởi nghiệp gồm 5 tiêu chí cốt lõi và hệ thống chỉ báo tương ứng, cung cấp một khung công cụ lý thuyết độc lập phục vụ công tác thẩm định và đánh giá chính sách trong lĩnh vực quản lý khoa học và công nghệ.
Về mặt thực tiễn:
- Luận án hệ thống hóa toàn diện danh mục văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khởi nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2015–2019, chỉ ra sự thiếu vắng hoặc kém hiệu quả của các công cụ chính sách tài chính mạo hiểm, cơ chế sở hữu trí tuệ và thủ tục thoái vốn.
- Nhận diện các điểm nghẽn pháp lý cụ thể: hạn chế về số lượng nhà đầu tư và tư cách pháp nhân của quỹ đầu tư mạo hiểm theo Nghị định số 38/2018/NĐ-CP; khoảng trống pháp lý đối với hình thức gọi vốn cộng đồng (crowdfunding); thiếu hụt chính sách visa khởi nghiệp (Startup Visa) cho chuyên gia, nhà đầu tư nước ngoài.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách bám sát 5 tiêu chí cốt lõi, cung cấp cơ sở thực chứng phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án dừng lại ở giai đoạn 2015–2019, chưa cập nhật và bao quát các biến động chính sách và tình hình kinh tế sau năm 2019.
- Dữ liệu phỏng vấn sâu mới dừng lại ở quy mô mẫu 20 chuyên gia và các bên liên quan, tập trung chủ yếu tại hai đô thị lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù khởi nghiệp tại các địa phương khác.
- Dữ liệu định lượng trong đánh giá thực trạng chủ yếu kế thừa từ các đề tài thứ cấp (đề tài KNDMST.09-17 của Phạm Hồng Quất) do cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia chính thức về startup chưa được thiết lập đồng bộ.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi đánh giá định lượng bằng việc khảo sát mẫu lớn hơn trên phạm vi toàn quốc đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp và quỹ đầu tư.
- Xác định và kiểm định trọng số toán học cho từng tiêu chí và chỉ báo trong Khung đánh giá để lượng hóa chính xác hơn mức độ hiệu quả của từng chính sách cụ thể.
- Nghiên cứu cập nhật các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) và tác động của các luật sửa đổi bổ sung sau năm 2019.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng cụ thể:
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý Đề án 844): Có thể sử dụng trực tiếp bộ 5 tiêu chí và bảng chỉ báo để rà soát, đánh giá tác động của các chính sách hiện hành, đồng thời làm căn cứ thiết kế các quy định về đầu tư mạo hiểm, visa khởi nghiệp và quản lý tài sản trí tuệ.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Kinh tế, Chính sách công: Tham khảo phương pháp xây dựng khung đánh giá chính sách, chu trình ROAMEF, mô hình phân biệt startup - spin-off, và phương pháp kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc với thảo luận bàn tròn.
- Các nhà quản lý vườn ươm, không gian làm việc chung, các quỹ đầu tư và tổ chức trung gian: Nắm bắt bức tranh tổng thể về môi trường thể chế, nhận diện các rào cản hành chính và đề xuất kiến nghị tháo gỡ khó khăn trong quá trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt giữa doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) và doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) dựa trên các căn cứ nào?
Luận án căn cứ vào 4 tiêu chí cốt lõi: (1) Chủ thể thành lập: Spin-off do trường đại học, viện nghiên cứu hoặc công ty công nghệ thành lập; startup có thể do bất kỳ cá nhân nào trong hoặc ngoài trường viện lập nên; (2) Quyền sở hữu công nghệ: Spin-off sở hữu công nghệ của tổ chức mẹ; startup tự nghiên cứu phát triển hoặc mua quyền sử dụng công nghệ (li-xăng); (3) Nguồn vốn đầu tư: Spin-off nhận vốn ban đầu từ tổ chức mẹ; startup huy động vốn từ bên ngoài; (4) Quản lý: Spin-off do nhân sự của tổ chức mẹ điều hành; startup do đội ngũ sáng lập độc lập quản lý.
2. Năm tiêu chí cốt lõi trong Khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp do tác giả đề xuất là gì?
Năm tiêu chí gồm: (1) Khả năng khích lệ sáng tạo và tinh thần kinh thương; (2) Khả năng hỗ trợ doanh nghiệp startup (về ươm tạo, tài chính, thông tin, thị trường và dịch vụ); (3) Khả năng kết nối các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp; (4) Khả năng không tạo ra các rào cản pháp lý và hành chính cho khởi nghiệp; (5) Khả năng thúc đẩy hội nhập thị trường quốc tế.
3. Theo kết quả nghiên cứu của luận án, chính sách tài chính cho khởi nghiệp tại Việt Nam đang gặp những điểm nghẽn cụ thể nào?
Luận án chỉ ra ba điểm nghẽn chính: (1) Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) áp dụng điều kiện tín dụng truyền thống, không chấp nhận rủi ro nên startup khó tiếp cận; (2) Nghị định số 38/2018/NĐ-CP giới hạn tối đa 30 thành viên góp vốn cho một quỹ khởi nghiệp sáng tạo và không công nhận tư cách pháp nhân độc lập của quỹ; (3) Hoàn toàn thiếu hành lang pháp lý cho hình thức gọi vốn cộng đồng (crowdfunding).
4. Tác giả luận án đã sử dụng những nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập thông tin nào?
Tác giả sử dụng dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua phương pháp quan sát không tham dự, 20 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với các bên liên quan tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, cùng các hội nghị bàn tròn chuyên gia. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, văn bản pháp luật quốc tế (Hoa Kỳ, Hàn Quốc) và số liệu thứ cấp từ đề tài cấp quốc gia mã số KNDMST.09-17 của TS. Phạm Hồng Quất (2020).
5. Luận án ghi nhận những bài học kinh nghiệm quốc tế tiêu biểu nào về chính sách khởi nghiệp?
Luận án phân tích: (1) Hoa Kỳ với Đạo luật JOBS Act 2012 hợp pháp hóa gọi vốn cộng đồng bằng cổ phần và chính sách International Entrepreneur Rule; (2) Israel với bài học thành công từ chương trình quỹ mạo hiểm Yozma (Nhà nước đồng đầu tư và cho phép tư nhân mua lại cổ phần ưu đãi) đối lập với thất bại của chương trình Inbal; (3) Hàn Quốc với mô hình quản lý tập trung của Bộ Khoa học, CNTT và Quy hoạch tương lai (MISP) cùng chương trình K-Startup Grand Challenge; (4) Singapore, Đài Loan và Chile với chính sách cấp visa khởi nghiệp thu hút doanh nhân toàn cầu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Hải Yến đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cơ sở lý thuyết và đề xuất Khung đánh giá chính sách thúc đẩy khởi nghiệp tại Việt Nam với 5 tiêu chí cốt lõi. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu, quan sát không tham dự và phỏng vấn sâu 20 chuyên gia, luận án đã đánh giá thực trạng hệ thống chính sách giai đoạn 2015–2019, chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế về đầu tư mạo hiểm, sở hữu trí tuệ và thị thực khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu cung cấp công cụ phân tích hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển phù hợp với bối cảnh kinh tế tri thức.