mở đầu cho những nghiên cứu tiếp theo về hình thức doanh nghiệp dựa trên KH&CN. Các nghiên cứu về startup đều cho răng đây là một loại hình về bản chất là kinh doanh tri thức. Cac startup có đặc thù là hướng đến việc tao ra lợi nhuận từ những hoạt động sáng tạo (Carland và cộng sự, 1984). Bollinger, Hope và Utterback (1983) cũng nhấn mạnh mục đích lớn nhất của việc thành lập nên tô chức/doanh ' “What are the links between the start-up conditions and the subsequent performance and impacts generated by SBEFs?” 12 nghiệp mới này là để khai thác một ý tưởng sáng tạo.
Chính vì lẽ đó, như một đặc điểm tat yếu của sáng tạo, mô hình kinh doanh này luôn tiềm tàng các rủi ro hay nói cách khác là thành công không chắc chắn (Eric Ries, 2011). Tùy thuộc vào vấn đề mà startup giải quyết, hàm lượng sáng tạo sẽ được thê hiện khác nhau. Gal Nachum (2015) đã phan chia startup thành 4 loại dựa trên các van dé/nhu cầu mà startup giải quyết. Thực tế có 3 loại vấn dé/nhu cầu cơ bản, đó là: nhu cau nhân lực, nhu câu kinh doanh và nhu cau công nghệ.
Các loại doanh nghiệp khác nhau sẽ cần tới các yếu tố dẫn dắt sáng tạo khác nhau. Theo đó, các startup loại 1: Nhu cầu nhân lực (Human need) không cần người dẫn dắt cũng như không cần đột phá gì về công nghệ. Startup loại 2: Nhu cầu kinh doanh (Business need) đa phan là startup “kinh doanh — kinh doanh” B2B (Business to Business Startup) đòi hỏi một chuyên gia kinh doanh. Các loại startup đáp ứng nhu cầu công nghệ thì luôn đòi hỏi có nhà khoa hoc/nha sang chế.
Đặc biệt, startup loại 4: Nhu cầu công nghệ trong thị trường mới (Tech need in new market) là một thách thức bởi nó đòi hỏi nhiều người dẫn dắt, gồm cả nhà khoa học/nhà sáng chế, doanh nghiệp và chuyên gia kinh doanh. Các nghiên cứu cũng tập trung làm rõ vai trò của startup khác biệt với các doanh nghiệp khác, trong đó, hai vai trò nổi bật được nhắc tới là: thiic đẩy đổi mới và giải quyết những vấn đề lớn của xã hội (con người). > Vai trò quan trọng trong thúc day doi mới Không phải là startup thông thường ma phải là startup dựa trên KH&CN mới là yếu tố thực sự đáng quan tâm trong quá trình đổi mới (Peter Thiel, Blake Masters, 2014). Trong tác phẩm Zero to One: Notes on Startups or How to Build the Future của minh, các tác giả bắt đầu bang nhận định rang công nghệ thông tin đã phat triển rất nhanh chóng và đó là lý do không có một giới hạn nào cho quá trình đổi mới này đối với ngành máy tinh, thí dụ tại thung lũng Silicon.
Quá trình này có thé đạt được trong bat kỳ nền công nghiệp hay khu vực kinh doanh nào. Tuy nhiên, các tác giả chỉ ra rằng nêu làm cái mà ai đó đã biết, như việc từ 1 tới n thì đơn giản giống như tạo ra những cái tương tự, thách thức ở đây là phải tạo ra cái mới từ 0 tới 1. Do đó, cuốn sách Zero to One cung cấp một cái nhìn lạc quan về tương lai ở Hoa Ky và một cách tư duy mới về đổi mới, đó là: đổi mới bắt dau từ việc nghĩ về van dé giá trị nào mà bạn đang muốn tìm kiếm ở những nơi không mong đợi. Đây chính là cách mà các tác giả muốn khuyến nghị đối với những ai đang muốn khởi nghiệp và phải khởi nghiệp dựa trên sang tạo, đôi mới.
13 Jongtaik Lee và đồng nghiệp (2016) đã làm rõ hơn vai trò của các startup như một thành tố chính trong quá trình thương mại hóa công nghệ. Startup được tác giả gọi là một trung tâm đổi mới (“Innovation Center”) cùng với các tổ chức chuyên giao công nghệ (7LO), các vườn ươm doanh nghiệp/doanh nghiệp gia tốc (Incubator/Accelerator) và các nhà đầu tư cho đổi mới (Investor). Đáng lưu ý, nghiên cứu đã đưa ra được một sơ đồ cho sự tương tác và các dòng chuyền hóa tri thức, công nghệ giữa các thành tố thành khi tham gia hệ sinh thái đổi mới (Tnnovation Ecosystem). > Vai trò quan trọng trong giải quyết các van đề lớn của xã hội Samir Rath, Teodora Georgieva (2014) đã đưa ra nhận định rằng hệ sinh thái đối mới đã trở nên phố biến trên khắp thế giới và trong xã hội đang xuất hiện quá nhiều vấn đề như thành phố ô nhiễm, sự béo phì, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận giáo dục, cung ứng nước sạch,.nhưng đáng buồn là số lượng các công nghệ được tạo ra trong các hệ sinh thái khởi nghiệp dẫn đầu trên thế giới mới chỉ là dừng lại ở tầm nhìn ngăn hạn và tập trung vào các vấn đề lợi nhuận hơn là giải quyết những vấn đề lớn và cơ bản như vậy.
Các tác giả kêu gọi việc tập trung vào đổi mới đối với các van đề thực sự đang tồn tại xung quanh mà con người và xã hội đang phải đối mặt trên khắp thế giới. Nghiên cứu chỉ ra một cách tiếp cận hệ thống trong việc xây dựng giai đoạn đầu của những công ty công nghệ. Nghiên cứu cũng cung cấp một tập hợp các khung quyết định mang tính kinh nghiệm từ việc thiết kế ý tưởng, tiến hành nghiên cứu, chiến lược kinh doanh và kinh tế vi mô. Cuốn sách thực sự đem tới những ý nghĩ mang tầm triết học về vai trò của các doanh nghiệp trong hệ thống kinh tế và sự thúc đây của các startup dựa trên công nghệ.
Startup đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay nên nhiều nghiên cứu nước ngoài đã sớm tập trung vào việc tìm ra các yếu tô thúc day loại hình kinh doanh này. Tổng quan các nghiên cứu cho thay có hai nhóm yếu tố thúc day khởi nghiệp, bao gồm nhóm yếu tố bên trong và nhóm yếu tố bên ngoài. 1) Nhóm yếu tố bên trong Thông qua khảo sát, nghiên cứu thực tiễn các startup, các nghiên cứu đã khái quát thành các yêu t6 mà một startup muốn thành công cần có, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới vai tro của người sang lập (tài năng và văn hóa khởi nghiệp của họ) và ý tưởng sáng tạo hay các sáng chế. 14 Trước hết, có thé ké tới nghiên cứu “High Tech Start Up, Revised and Updated: The Complete Handbook For Creating Successful New High Tech Companies” cua John L.
Nesheim (2000) hay “Success factors in technology — based entrepreneurship” của John T. Theo đó các yếu tố thành công trong việc xây dựng các startup công nghệ cao được đúc rút là: 1) ý /ưởng sang tạo, 2) tài năng quản lý, 3) các sáng chế (dong vai trò chính trong việc xây dựng các lợi thé vững chắc cho các startup nhỏ, công nghệ cao), 4) hành vi nhiệt huyết giữa các nhân viên, 5) vai trò cua các nhà dau tư, 6) địa điểm — nơi bắt đầu công việc kinh doanh. Marmer và cộng sự (2011) đã tiến hành một nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm câu trả lời Điêu gì khiến cho các startup ở Thung lũng Silicon thành công? với khảo sát hơn 650 startup về công nghệ thông tin ở Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều loại startup khác nhau, có quá trình phát triển riêng biệt, mỗi giai đoạn có thé được đo băng các mốc và ngưỡng cụ thể với các yếu tố tác động thành công như: Người sáng lập (Founders), Nhà đầu tu (Investors), Công nghệ (Technology), Cac đối tac (Partners), Tài san trí tuệ (Intellectual Property).
2) Nhóm yếu tố bên ngoài Các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố tác động (kìm hãm hoặc thúc đây) hoạt động này bao gồm 5 nhóm yếu tổ chính: wom tao, tài chính cho khởi nghiệp, liên kết viện/Irường đại học với nên công nghiệp, vai trò của chính phủ, hệ sinh thái khởi nghiệp. Cụ thê như sau: 1) Uom tạo Các startup thường gặp các thách thức trong việc thương mai hóa các ý tưởng mới của họ. Isabelle (2013) đã vi von với câu nói cua Peter Drucker — một chuyên gia về quan lý đã nói “/deas are like frog eggs: you've got to lay a thousand” (tam dich là “những ý tưởng giống như là những quả trứng ếch và có thé nở ra hàng ngàn lợi nhuận”) đề dẫn dắt răng các startup nói chung cần điều kiện để những quả trứng đó nở ra và mang lại các lợi nhuận kinh tế. Vậy làm thé nào dé “ấp trứng” thành công là một trong những vấn đề lớn được quan tâm của các chuyên gia về khởi nghiệp.
Theo thời gian, các hình thức “ấp trứng” cũng trở nên đa đạng trong thực tiễn nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của startup và hiệu quả hơn với phương án đầu tư. Qua các nghiên cứu, có 03 loại hình thức “ấp trứng” được đề cập chủ yếu là: Vwởn ươm (Incubator), Doanh nghiệp tăng toc (Accelerator) và Dau tư thiên than (Angel Investor). 15 Các nghiên cứu chỉ ra rằng các startup có thê lựa chọn hình thức “ấp trứng” thông qua vườm ươm doanh nghiệp hay doanh nghiệp tăng tốc (Incubator or Accelerator) để có thé có được các hỗ tro (không gian làm việc, cơ sở vật chất, vốn,.) và các cơ hội tiếp cận các nguồn lực cũng như các đối tác kinh doanh (OECD, 2010b; Diane A. Hình thức vườn ươm doanh nghiệp (Incubafor hay Business Incubator) được ra đời sớm hơn và đã chứng minh được vai trò của nó tác động tới thành công của startup cả về lý luận và thực tiễn tại các quốc gia.
Các nghiên cứu đã đưa ra các bằng chứng về việc startup xuất phát từ các vườn ươm doanh nghiệp có tỷ lệ thành công hơn (Scillitoe va Chakrabarti, 2010). Trong khi đó, vai năm trở lai đây xuất hiện một hình thức mới cung cấp các hỗ trợ cho các doanh nghiệp này là doanh nghiệp tăng tốc (Accelerator), chủ yêu cung cấp vốn môi hay đầu tư mạo hiểm. Thực tế không có một định nghĩa nào rõ ràng về Accelerator mà nó thường được mô tả như là một dạng vườn ươm tập trung vào việc tăng tốc phát triển của các doanh nghiệp hơn là một vườn ươm doanh nghiệp thông thường (Bosma và Stam, 2012). Accelerator đầu tiên được biết tới là Y Combinator vào năm 2005 bởi Paul Graham — một nhà dau tư thiên thần.
Ké từ đó Y Combinator đã tai trợ cho hon 450 startup” như Loopt, Reddit, Scribd, Dropbox, Heroku, Posterous, Airbnb, Hipmunk,. Su khác biệt giữa Incubator va Accelerator đã được các nghiên cứu quan tam dé có thé đưa ra những gợi ý tốt nhất cho lựa chọn của các startup.