Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về chính sách phát triển các tổ chức vệ tinh (spin-off) thành doanh nghiệp khởi nghiệp. Cơ sở lý luận về phát triển các tổ chức vệ tinh (spin-off) thành doanh nghiệp khởi nghiệp trong trường đại học. 7c trạng chính sách phát triển tổ chức vệ tinh (spin-off) thành doanh nghiệp khởi nghiệp tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Giải pháp hoàn thiện chỉnh sách phát triển tổ chức vệ tinh (spin- off) thành doanh nghiệp khởi nghiệp tại Dai học Quốc gia Hà Nội. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CHÍNH SÁCH PHAT TRIEN CAC TO CHỨC VỆ TINH (SPIN-OFF) THANH DOANH NGHIEP KHOI NGHIEP 1. Các công trình đã công bố ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài về giáo dục khởi nghiệp trong trường đại học Các trường đại học được coi là một nguồn quan trọng của những đổi mới mới và ngày càng được coi là nơi gieo mầm cho các dự án kinh doanh mới.
Các nhà hoạch định chính sách đang khuyến khích các trường đại học dựa trên nghiên cứu tăng tỷ lệ hình thành spin-off. Tuy nhiên, dé tạo điều kiện thuận lợi cho các trường đại học spIn-off, cần phải hiểu rõ hơn về quá trình dẫn đến sự xuất hiện và phát triển của các trường đại hoc spin-off. Bài báo này khám phá quá trình tao ra liên doanh mới trong môi trường đại học từ góc độ quá trình kinh doanh. Công ty spin- off của trường đại hoc là kết quả của quá trình kinh doanh dựa trên việc khai thác công nghệ của trường đại học.
Các định nghĩa về tinh thần kinh doanh thường bao gồm (các) cá nhân, cơ hội, bối cảnh và quá trình theo thời gian. Do đó, việc tạo ra một công ty con của trường đại học có thê được coi là một quá trình trong đó một ý tưởng hoặc cơ hội dựa trên nghiên cứu, một người hoặc một nhóm doanh nhân và bối cảnh tạo ra các thuộc tinh cần thiết cho một tổ chức mới xuất hiện. Nghiên cứu trước đây đã xác định các yếu tố liên quan đến công nghệ hoặc ý tưởng kinh doanh, cá nhân và bối cảnh trường đại học ảnh hưởng đến sự hình thành spin-off, nhưng một số nghiên cứu đã đề cập đến quá trình hình thành các công ty như vậy. Điều này đòi hỏi nỗ lực điều tra toàn bộ quá trình nhằm tiết lộ cách thức các công ty phụ xuất hiện từ các trường đại học va để xác định những lĩnh vực cần nghiên cứu thêm.
Giáo dục khởi nghiệp trong trường đại học đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, bởi nó là một nền tảng cơ sở trang bị kiến thức cho sinh viên ngay khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Vì vậy, Antonina Bauman và Carol Lucy (2019) trong nghiên cứu “Enhancing entrepreneurial education developing competencies for success” đã chỉ ra trong bôi cảnh môi trường khởi nghiệp thay đôi 18 thì các nhà giáo dục phải liên tục điều chỉnh quy trình giáo dục và chương trình giảng dạy để đảm bảo kết quả tốt nhất cho các doanh nhân tương lai. Thị trường cạnh tranh trong giáo dục đại học cung cấp một động lực để lôi kéo các doanh nhân tham gia vào các chương trình giáo dục đại học và thông qua các chương trình có liên quan, đảm bảo tốt nhất cho sự thành công kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp. Vi vậy, khi môi trường khởi nghiệp đã thay đổi, thì các chương trình giáo dục cũng phải thay đổi theo.
Ngoài ra, bài viết còn đánh giá, xác định một số năng lực kinh doanh cần thiết để khởi nghiệp thành công và trình độ kỹ năng hiện tại của sinh viên tốt nghiệp gần đây cho các chương trình kinh doanh và doanh nhân. Nghiên cứu này còn đề xuất các phương pháp tiếp cận mới trong giảng dạy dé thích ứng với những điều chỉnh, thay đổi trong môi trường kinh doanh của Mỹ. Audrey Gilmore và cộng sự (2020), trong nghiên cứu “Four questions of entreprenerurial marketing education: Perspective of univeristy educators” đã xem xét, phan ánh về thiết kế và cung cấp chương trình giáo dục tiếp thi doanh nhân (EM) trong các trường đại học. Trong những thập kỷ gần đây, EM ngày càng nhận được sự quan tâm từ các nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục, tô chức và cá nhân với mong muốn tăng cường tiềm năng tăng trưởng trong các nền kinh tế khu vực và quốc gia.
Các hoạt động và quy trình EM đã được nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành công nghiệp đa dạng như nông nghiệp, du lịch và kỹ thuật áp dụng. Tất cả những phát triển này đã tác động đến giáo dục EM. Bốn câu hỏi chính đối với một chương trình EM là: (i) những gì nên được day; (1) nên được dạy như thé nào; (iii) nơi cần được day; va (iv) ai nên dạy EM. Bồn câu hỏi này đã được đặt ra cho một diễn đàn quốc tế của các nhà giáo dục đại học EM, và câu trả lời của họ được đưa vào dé phản ánh bản chất của giáo dục EM ngày nay và những tác động đối với các nhà giáo dục.
Badariah HJ Din, Abdul Rahim Anuar, Mana Usman (2016) trong nghiên cứu “The effectiveness of the Entrepreneurship Education Program in Upgrading Entrepreneurial Skills among Public University Students” cho thay các chương trình giáo dục khởi nghiệp tao ra sự hài lòng cao trong công việc va nâng cao vi thế của người học. Mức độ thành công của giáo dục khởi nghiệp cao hơn dẫn đến thu 19 nhập cao hơn và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều trường đại học trên thế giới đang trong quá trình tăng cường các chương trình giáo dục khởi nghiệp để tạo ra nhiều doanh nhân trẻ trong tương lai. Chương trình giáo dục này luôn được xem xét phù hợp với những thách thức của thế giới bên ngoài.
Mục đích của nghiên cứu là để đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục khởi nghiệp đối với sinh viên đại học Malaysia. Nghiên cứu đã khảo sát, đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục khởi nghiệp tại một trường đại học công lập là Dai hoc Utara Malaysia. Kết quả cho thấy chương trình rất hiệu quả trong việc nâng cao kỹ năng kinh doanh của sinh viên và mối quan hệ chặt chẽ giữa kế hoạch kinh doanh, tư duy rủi ro và cả hiệu quả của chương trình. Nghiên cứu đã gợi ý rằng, các kỹ năng và hoạt động kinh doanh có thé được thúc day thông qua giáo dục và đào tạo doanh nhân trong một trường đại học công lập.
Các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đối với Bộ Giáo dục nước này trong việc củng cô văn hóa khởi nghiệp của giới trẻ. Thúc day sự quan tâm về khởi nghiệp của thế hệ trẻ là một thách thức mà Chính phủ sẽ phải đối mặt. Nghiên cứu này hướng các nhà hoạch định chính sách về cách thực hiện các biện pháp phù hợp liên quan đến xu hướng hiện tại của các chương trình giáo dục khởi nghiệp trong các trường đại học công lập ở Malaysia. Nghiên cứu “Entrepreneurship Education at University Level and Studenf s Entrepreneurial Intentions Entrepreneurship Education at University Level and Student’s Entrepreneurial Intentions” cua nhóm Merle Kuttim, Marianne Kallaste, Urve Venesaar, Aino Kiis (2014) lai hướng đến xác định nội dung của giáo dục khởi nghiệp ở trường đại học và tác động của nó đối với sinh viên có ý định khởi nghiệp.
Mẫu nghiên cứu được sử dung bao gồm các sinh viên từ 17 quốc gia châu Âu được phân thành hai nhóm theo mục đích: nền kinh tế theo định hướng hiệu quả và đổi mới. Kết quả chỉ ra răng những gì được cung cấp như các hoạt động kết nối và các huấn luyện bên ngoài được các sinh viên mong đợi nhiều hơn các bài giảng hay hội thảo. Việc tham gia vào giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp.Klobas và FranciscoLifian Panagiotis Kokkalis (2020) trong nghién ctru “Entrepreneurship education programmes: How 20 learning, inspiration and resources affect intentions for new venture creation in a developing economy” tập trung nghiên cứu trên 349 sinh viên tốt nghiệp 8 trường đại học ở Pakistan về việc thử nghiệm một mô hình dao tạo theo hướng cho sinh viên tham gia vào chương trình giáo dục khởi nghiệp (EEP) và ý định khởi nghiệp. EEP là các chương trình cấp bằng được thiết kế để đào tạo có ba thành phần là (học tập, cảm hứng và tài nguyên): các hoạt động học tập và truyền cảm hứng đều làm tăng nhận thức về doanh nhân.
Ngoài ra, khi truy cập vào các tài nguyên ươm tạo cho ta thay khi tác động mạnh đến nhận thức thì thái độ tích cực cũng tăng lên và kiểm soát nhận thức tốt lên. Những phát hiện này cung cấp cái nhìn sâu sắc về kết quả từ các nghiên cứu trước đây, cho thấy trải nghiệm tích cực của sinh viên qua các thành phần khác nhau của chương trình khởi nghiệp có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên như thế nào. Liên quan đến start-up trong trường đại học, Thomas Astebro, Navid Bazzazian, Serguey Braguinsky (2012) với nghiên cứu “Startups by recent university graduates and their faculty: Implications for university entrepreneurship policy” cho thay rằng những nghiên cứu trước đây về vai trò của các trường dai học trong việc thúc đây sự phát triển kinh tế hầu như chỉ đề cập đến các spin-off của giảng viên và cán bộ. Thực tế thì tại Viện công nghệ Massachussett, Đại học Halstad và Dai học Công nghệ Chalmers ở Mỹ, tong số tiền khởi nghiệp từ các sinh viên mới tốt nghiệp về khối ngành khoa học và kỹ thuật nhiều hơn so với các doanh nghiệp spin-off của các giảng viên.
Sinh viên mới tốt nghiệp có khả năng kiếm tiền cao gấp đôi so với giảng viên trong vòng ba năm sau khi tốt nghiệp và các doanh nghiệp spin-off của sinh viên mới tốt nghiệp chất lượng không hè thấp. Nghiên cứu ba trường hợp tại ba cơ sở này cho thấy các trường đại học thấy rằng có thể thúc đây sinh viên học chuyên ngành khoa học và kỹ thuật, sinh viên mới tốt nghiệp có thể khởi nghiệp và tạo ra những thương hiệu mới có chất lượng cao. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc chuyền đôi mục đích và thực tiễn của trường đại học theo hướng tăng khởi nghiệp đối với giảng viên có thể không phải là cách hiệu quả nhất dé các trường đại học khuyến khích phát triển khởi nghiệp. 21 Bill Aulet trong cuốn sách“Disciplined Entrepreneurship — 24 steps to a Successful Startup” chỉ ra rang, sinh viên tốt nghiệp từ Viện công nghệ Massachusetts (MIT) có tỉ lệ khởi nghiệp kinh doanh rất cao.
Cuốn sách này đã cho thấy một bức tranh cụ thể rằng từ năm 2006 đã có 25.000 công ty đang hoạt động và 900 công ty được mở ra mỗi năm từ các sinh viên của MIT.