CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP ĐMST VÀ HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐMST 1. Tổng quan về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 1. Khái niệm về đổi mới sáng tạo Thuật ngữ “Innovation” (tiếng Việt hiện nay dịch là “đổi mới sáng tạo”, viết tắt là ĐMST) mới chỉ xuất hiện trong văn khoa thế giới vào nửa đầu thế kỷ XX, nhưng vai trò của những tiến bộ khoa học và công nghệ đến tăng trưởng kinh tế đã được các nhà kinh tế học đề cập ngay từ rất sớm, điển hình là những nghiên cứu của Carl Mark về vấn đề này.
Tuy nhiên, phải đến Joseph Schumpeter, nhà kinh tế học, xã hội học người Áo (1883 - 1950), khái niệm ĐMST mới được phân tích một cách có hệ thống. (Schumpeter, 1934) đưa ra khái niệm ĐMST và phân chia ĐMST thành năm loại, bao gồm: (i) đưa ra sản phẩm mới; (ii) đưa ra các phương pháp sản xuất mới; (iii) mở ra thị trường mới; (iv) phát triển các nguồn mới cung cấp vật liệu thô hay các loại đầu vào mới khác; (v) tạo ra cấu trúc thị trường mới trong một ngành. ĐMST được định nghĩa là việc đưa ra một sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) mới hoặc một sản phẩm được cải tiến đáng kể, hoặc đưa ra và thực hiện qui trình công nghệ mới, phương pháp tiếp thị mới, một phương pháp tổ chức mới trong hoạt động kinh doanh, trong tổ chức nơi làm việc hoặc trong quan hệ với bên ngoài (OECD, 2005). Định nghĩa trên đây phân biệt bốn loại đổi mới, bao gồm: (i) Đổi mới sản phẩm; (ii) Đổi mới quy trình; (iii) Đổi mới cách tiếp thị; và (iv) Đổi mới cách tổ chức.
Để được coi là ĐMST, những thay đổi phải có một mức độ “chưa từng có” hay mức độ mới nào đó. OECD (2005) phân biệt 3 mức độ mới, đó là: mới đối với doanh nghiệp; mới đối với thị trường (của quốc gia, vùng mà doanh nghiệp hoạt động) hoặc mới đối với thế giới. ĐMST ở mức “mới đối với doanh nghiệp” thực chất là việc doanh nghiệp đưa ra thị trường những sản phẩm, hay áp dụng qui trình không còn mới so với thế giới hay so với thị trường trong nước, nhưng lại là lần đầu tiên, là mới so với doanh nghiệp. ĐMST ở mức “mới so với thị trường” là việc doanh nghiệp là người đầu tiên giới thiệu đổi mới đó ra thị trường (trong nước, khu vực, thị trường mà doanh nghiệp bán hàng), nhưng so với thế giới thì không còn mới nữa.
ĐMST ở Luan van 7 mức “mới so với thế giới” là khi doanh nghiệp là người đầu tiên giới thiệu đổi mới trên tất cả các thị trường và trong tất cả các ngành. Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 1. Khái niệm Khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt được giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp. Định nghĩa khởi nghiệp cũng thay đổi qua thời gian với các nhà nghiên cứu khác nhau.
Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó. Để phân biệt “khởi nghiệp” với hoạt động “lập nghiệp thông thường”, khái niệm khởi nghiệp được gắn với đặc thù là dựa trên đổi mới, sáng tạo, vì vậy có sự ra đời của khái niệm “khởi nghiệp ĐMST”. Ở Việt Nam, thường dùng thuật ngữ “khởi nghiệp ĐMST” (Startup) để phân biệt với lập nghiệp thông thường như mở quán phở hay cửa hàng bán quần áo. Trên thế giới cũng có nhiều định nghĩa, lý giải về doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST.
Trong đó, Schumpeter cho rằng hoạt động đổi mới sáng tạo là hoạt động trọng tâm của người kinh doanh và bao gồm việc phát hiện ra những sản phẩm mới, quy trình mới, và phát hiện ra các thị trường mới (Schumpeter, 1947, tr153) dựa trên việc phát hiện ra các nguồn thông tin mới. Tuy nhiên, những lợi ích của các phát hiện này chưa được chứng minh ở thời điểm hiện tại, do đó những sẽ chịu rủi ro bởi những quyết định của mình và từ đó nhận được lợi ích cao nếu quyết định của họ là đúng. Theo Bollinger, Hope và Utterback (1983), một số đặc điểm của startup gồm có: (1) một nhóm có từ 1 đến 4 hoặc 5 người là những người sáng lập ra doanh nghiệp khởi nghiệp; (2) doanh nghiệp có sự tự chủ riêng, và không phải là một phần tách ra từ một tập đoàn hoặc doanh nghiệp lớn sẵn có; (3) dựa trên đổi mới sáng tạo, nghĩa là mục đích lớn nhất của việc thành lập nên tổ chức/doanh nghiệp mới là để khai thác một ý tưởng sáng tạo. Ngoài ra, trong khuôn khổ các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của một số nước trên thế giới, định nghĩa về startup thường được gắn với các tiêu chuẩn cụ thể, mang tính định lượng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định các đối tượng hỗ trợ.
Một số tiêu chí cơ bản như sau: Luan van 8 - Về mặt quy mô, startup là doanh nghiệp nhỏ về mức doanh thu (ví dụ: dưới 1 triệu USD, 3 triệu USD hay 200,000 USD doanh thu hằng năm, tùy từng nước)1 - Về mặt giai đoạn kinh doanh, startup có thể là doanh nghiệp, hoặc một nhóm cá nhân đang tìm kiếm mô hình kinh doanh mới, chưa phát hành cổ phiếu trên sàn chứng khoán; trong thời gian mới thành lập (dưới 3 hoặc 5 năm).2 Ở Việt Nam, thuật ngữ “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị quyết 351 của Chính phủ được thông qua ngày 16 tháng 5 năm 2016, tiếp đó được định nghĩa trong Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (Đề án 844) được thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2016, và sau đó là trong Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ được thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2017. Cả Đề án 844 và Luật này đều tập trung nhấn mạnh các đặc điểm tiềm năng tăng trưởng cao và tính sáng tạo của doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST và cùng định nghĩa: “doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST được thành lập để triển khai một ý tưởng kinh doanh trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới và có tiềm năng mở rộng quy mô nhanh chóng”. Sự khác biệt giữa hai văn bản chính sách này là loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp mà từng văn bản hướng tới. Đề án 844 áp dụng đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo với thời gian hoạt động tối đa 5 năm kể từ ngày đăng ký thành lập trong khi Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ không quy định giới hạn này.
Trong khuôn khổ của luận văn này, thuật ngữ “doanh nghiệp khởi nghiệp” và “doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST” và “doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo” được sử dụng với hàm ý tương đương theo định nghĩa tại Quyết định 844, nhằm đề cập đến “những doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ và/hoặc mô hình kinh doanh mới với thời gian hoạt động không quá 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đâu”. 1Theo tham khảo các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của Hoa Kỳ, Singapore, Ấn Độ, Úc 2Theo tham khảo các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của Hoa Kỳ, Phần Lan, Ixaren, Singapore Luan van 9 1. Quá trình phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST Theo StartupCommons (2018), sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung sẽ trải qua 6 quá trình với 3 giai đoạn chính là: Hình thành (Formation), Thẩm định (Validation), Tăng trưởng (Growth). Các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp (Nguồn: StartupCommons, 2018) (1) Giai đoạn Hình thành (Formation): ở giai đoạn này, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tìm hiểu thị trường nhằm xác định vấn đề cần giải quyết (giai đoạn điều tra) và kiểm định tiềm năng đáp ứng nhu cầu thị trường của giải pháp mình đưa ra thông qua nghiên cứu thị trường và nghiên cứu tính khả thi của sản phẩm, dịch vụ mẫu.
Tương ứng với giai đoạn này là hoạt động đầu tư, tài trợ ở vòng chứng minh khái niệm và tiền hạt giống. Ở vòng chứng minh khái niệm, nguồn vốn chính thường là vốn của các thành viên sáng lập cùng với các khoản tài trợ của Chính phủ và hỗ trợ tài chính từ gia đình và bạn bè. Khu vực tư nhân có khả năng sẽ tham gia đầu tư nếu tính khả thi của doanh nghiệp có mức độ chắc chắn cao. (2) Giai đoạn Thẩm định (Validation): Sau khi doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đã xác định giải pháp phù hợp cho vấn đề cần giải quyết trong giai đoạn tìm hiểu, ở giai đoạn Thẩm định, doanh nghiệp phải tập trung vào xây dựng sản phẩm Luan van 10 mẫu (MVP – Minimun Viable Product), dịch vụ sẽ đưa ra thị trường và tìm những khách hàng đầu tiên để bán sản phẩm, dịch vụ.
Ở cuối giai đoạn này, sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp khởi nghiệp phải được thị trường chấp nhận (Market Fit) dù vẫn phải thực hiện một số điều chỉnh nhất định (tinh chỉnh) cho phù hợp với thị hiếu của thị trường. Tương ứng với giai đoạn này là các vòng đầu tư hạt giống và khởi nghiệp và đầu tư giai đoạn đầu tương ứng với các giai đoạn phát triển và giới thiệu. Giai đoạn này có thể là giai đoạn đầu tiên doanh nghiệp nhận được hỗ trợ tài chính từ Chính phủ (bao gồm tài trợ không hoàn lại và vốn vay), khi sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận và doanh nghiệp được đánh giá ít rủi ro hơn. Bên cạnh đó có thể xuất hiện thêm nguồn vốn từ các nhà đầu tư thiên thần, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, các quỹ đầu tư mạo hiểm.
(3) Giai đoạn Tăng trưởng (Growth): là giai đoạn mà doanh nghiệp khởi nghiệp bắt đầu mở rộng quy mô với mục tiêu là phải phát triển thị trường người dùng, doanh thu. Trong giai đoạn tăng trưởng, các doanh nghiệp khởi nghiệp thường thực hiện các vòng gọi vốn đầu tư mạo hiểm. ● Giai đoạn gọi vốn vòng A (series A): doanh nghiệp khởi nghiệp đưa mô hình kinh doanh để phát triển sản phẩm ra thị trường. ● Giai đoạn gọi vốn vòng B (series B): doanh nghiệp khởi nghiệp bắt đầu có tiền đề mở rộng thị trường.
● Giai đoạn gọi vốn vòng C (series C): Giai đoạn doanh nghiệp khởi nghiệp tăng trưởng nhanh. Khi đã trưởng thành (có mô hình kinh doanh bền vững), các doanh nghiệp khởi nghiệp thường tìm kiếm nguồn vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc qua mua bán và sáp nhập (M&A). Lúc này, các ngân hàng có nhiều khả năng chấp nhận cho các doanh nghiệp này vay vốn cao hơn.