Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tư vào Khu kinh tế; Chương 2. Đánh giá thực trạng thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình; Chương 3. Định hướng và giải pháp thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình.
ỘI DU G GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1. CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO KHU KI H TẾ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ KHU KI H TẾ 1. Khái niệm khu kinh tế Thuật ngữ “Khu kinh tế” (Economic Zones) xuất hiện từ cuối thập niên 70 của thế kỷ trước từ Trung Quốc.
Cho đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về Khu kinh tế (KKT): Theo nghĩa rộng, khu kinh tế được hiểu là những khu vực địa lý được áp dụng những chính sách đặc biệt [19]. Theo nghĩa hẹp, khu kinh tế là một loại hình riêng của khu kinh tế tự do, đầy đủ như một xã hội thu nhỏ. Đó là một khu vực địa lý riêng biệt, được áp dụng những chính sách kinh tế đặc biệt nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ, kiến thức về quản lý để phát triển kinh tế với một cơ cấu ngành nghề đầy đủ, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp hướng về xuất khNu nhưng cũng không bỏ qua thị trường nội địa. Khu kinh tế, bao gồm tất cả các loại hình khác nhau của khu kinh tế tự do, được tổ chức thành lập các khu chức năng: khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng nước sâu và các ngành công nghiệp, dịch vụ gắn với cảng, khu phi thuế quan, khu đô thị, khu du lịch, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác.
Tại Việt N am, khái niệm khu kinh tế được hiểu là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong khung pháp lý hiện hành và ngày càng hoàn thiện. Đặc điểm của khu kinh tế Khu kinh tế có một số đặc điểm sau: - Là khu vực có vị trí địa lý, ranh giới riêng biệt với các vùng khác, một bộ 5 phận lãnh thổ quốc gia được Chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp lý riêng, mở cửa theo các thông lệ quốc tế [26]. - Là nơi có môi trường đầu tư, kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường, được hưởng quy chế tự do và ưu đãi hơn các vùng khác - Là nơi giao lưu kinh tế với nước ngoài thông thoáng, ưu tiên hướng xuất khNu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vai trò của khu kinh tế - Xây dựng và phát triển các KKT là điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển KT-XH: Đây là một hình thức để huy động nguồn lực, động viên các nguồn vốn trong nước, ngoài nước, tiết kiệm trong dân cư vào sản xuất kinh doanh để thúc đNy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đặc biệt, ở những địa phương có khả năng tích luỹ từ nội bộ thấp thì nguồn vốn thu hút được thông qua các dự án đầu tư không chỉ đơn thuần là nguồn lực bổ sung mà còn được coi là điều kiện để tạo ra “cú hích” để phát triển kinh tế. - Phát triển các KKT là điều kiện để giải quyết việc làm và đào tạo nguồn nhân lực: Tăng quy mô hoạt động của các doanh nghiệp hiện có hoặc thành lập các doanh nghiệp mới trong các KKT sẽ giải quyết việc làm cho người lao động. Hơn nữa, đi theo các dự án là sự phát triển các ngành dịch vụ và gia công trong các lĩnh vực bổ trợ như dịch vụ ăn uống, vận tải, cung ứng vật liệu xây dựng, cho thuê nhà ở… Đây là điều kiện tốt để giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động. Thông qua yêu cầu đáp ứng nhân lực cho các dự án đầu tư, người lao động sẽ có cơ hội được đào tạo nghề, học hỏi, tiếp thu khoa học - công nghệ, rèn luyện kỹ năng, kỹ luật lao động và năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Chính nguồn lực này góp phần quan trọng để rút ngắn khoảng cách tụt hậu mà trước hết là tụt hậu về kinh tế và công nghệ [26]. - Xây dựng các KKT là điều kiện để thúc đNy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CPH-HĐH: Thu hút lao động từ nông nghiệp vào công nghiệp và dịch vụ sẽ làm giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ trong tổng số lao động của tỉnh. Đi theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động là sự biến đổi cơ cấu giá trị trong GDP cũng theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản phNm nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản phNm công nghiệp và dịch vụ. 6 Mặt khác, cơ cấu vùng cũng được đổi mới do hình thành những khu đô thị hay thị trấn gắn liền với các KKT, đồng thời hệ thống kết cấu hạ tầng được mở rộng và hoàn thiện tạo thuận lợi cho việc giao lưu với các vùng khác trong và ngoài tỉnh, tác động đến cơ cấu hàng hóa xuất ra và nhập vào tỉnh.
Thông qua quá trình đầu tư sẽ làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới có trình độ công nghệ và năng suất lao động cao, đồng thời chính quá trình ấy sẽ tạo ra một xu thế ngược lại, một số ngành nghề có sức cạnh tranh kém sẽ phát triển chậm lại thậm chí bị mai một và triệt tiêu. - Phát triển các KKT là điều kiện để mở rộng thị trường và thúc đNy xuất khNu: Xuất khNu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng và cân bằng cán cân thương mại của mỗi nước cũng như của từng địa phương, thông qua xuất khNu, lợi thế so sánh của từng địa phương sẽ được khai thác có hiệu quả hơn. Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, dù doanh nghiệp có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp cũng vẫn gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường, nhất là thị trường thế giới. Thông qua liên doanh, liên kết đầu tư, nhất là với các công ty xuyên quốc gia nắm được thị phần lớn là điều kiện tốt nhất để phát huy những lợi thế so sánh của mỗi quốc gia và của mỗi địa phương, nhanh chóng khẳng định được thương hiệu, vì các công ty xuyên quốc gia có vị thế và uy tín lớn trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế.
Đây là điều kiện để đNy nhanh quá trình hội nhập kinh tế, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế của cả nước cũng như của từng doanh nghiệp. - Thông qua thu hút các dự án đầu tư vào các KKT sẽ tiếp thu được công nghệ mới, kỹ năng quản lý tiên tiến, tạo ra sự phát triển năng động tại nơi tiếp nhận đầu tư: Trong tiến trình CN H-HĐH, đi tắt đón đầu việc tiếp thu những công nghệ mới là một đòi hỏi bức thiết của các nước đang phát triển cũng như của từng địa phương. Thu hút các doanh nghiệp có vốn nước ngoài vào các KKT được coi là con đường quan trọng để chuyển giao công nghệ vào nước ta, hơn thế nữa những công nghệ, kỹ năng quản lý được chuyển giao đó sẽ được cải tiến phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nơi tiếp nhận [26]. Kinh nghiệm cho thấy khi các dự án đầu tiên được triển khai thuận lợi, có hiệu quả sẽkhuyến khích, lôi kéo các nhà đầu tư tiềm năng khác, thậm chí còn tạo ra sự cạnh tranh giữacác nhà đầu tư với nhau và giữa các nhà đầu tư với các doanh nghiệp hiện có ở địa phương,tạo nên sức ép buộc các doanh nghiệp sở tại phải thay đổi cách làm, cách quản lý có hiệuquả hơn để tồn tại và phát triển.
7 - Phát triển KKT sẽ góp phần tăng thu PSPP ở địa phương và nâng cao đời sống nhân dân Các dự án đầu tư sẽ mang lại nguồn thu ngân sách cho địa phương từ các khoản về thuế, tiền thuê đất, phí kết cấu hạ tầng, lợi nhuận. Mặt khác sản phNm hàng hóa, dịch vụ sẽ phong phú và đa dạng, chất lượng cao, giá cả hợp lý, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư mà trước hết và trực tiếp là dân cư địa phương. CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO KHU KI H TẾ 1. Khái niệm thu hút đầu tư vào khu kinh tế 1.
Khái niệm đầu tư */ Đầu tư: Do hoạt động đầu tư rất phong phú nên có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này. Theo Từ điển Bách Khoa định nghĩa: “Đầu tư là bỏ vốn vào một doanh nghiệp một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới hoặc thực hiện việc hiện đại hoá mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng. Theo Luật Đầu tư thì: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”; cũng theo Luật Đầu tư thì: “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp” [24]. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu đầu tư là việc bỏ ra các nguồn lực vào một công việc nào đó nhằm thu lợi lớn hơn trong tương lai.
Có hai đặc trưng để phân biệt một hoạt động được coi là đầu tư đó là tính sinh lời và rủi ro. N ếu người ta chỉ chi phí ra để mua một thứ hàng hoá cho tiêu dùng thông thường thì không thể có yếu tố đầu tư trong đó. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lời mà không có rủi ro thì mọi người đều trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã phân hoá, sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đNy xã hội phát triển.