Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tư Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 4 Chương 3: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Chương 4: Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ 1. Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tƣ 1.
Lý luận về đầu tư 1. Khái niệm đầu tư Theo Từ điển kinh tế học hiện đại của David W. Pearce (1992), đầu tư là thuật ngữ được dùng phổ biến nhất để mô tả các khoản chi tiêu (trong một thời kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực. Trên thực tế, một định nghĩa chính xác hơn bao hàm được yếu tố trên là: đầu tư là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa, những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trung gian.
Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ sung vào tài sản vật chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng hóa tồn kho. Đầu tư là những khoản chi tiêu, khối lượng đầu tư được xác định bởi tất cả các dự án có giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV) lớn hơn không (0) hay tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn lãi suất. Từ khái niệm đầu tư nêu trên cho thấy nội hàm của khái niệm rất rộng, bao gồm cả đầu tư vào tài sản vật chất và vốn nhân lực. Quyết định đầu tư của một dự án dựa trên việc tính toán giá trị hiện tại thuần của dự án đó.
Nếu giá trị hiện tại thuần lớn hơn không (0), nghĩa là đầu tư sẽ mang lại lợi nhuận; ngược lại, nếu giá trị hiện tại thuần nhỏ hơn không (0), nghĩa là đầu tư sẽ bị thua lỗ và nhà đầu tư sẽ không thực hiện đầu tư. Theo từ điển Các thuật ngữ đầu tư và tài chính của John Downes và Jordan Elliot Goodman (1991), đầu tư là việc sử dụng vốn để tạo ra thêm tiền thông qua phương thức sản xuất hình thành thu nhập hoặc thông qua công việc kinh doanh mang tính mạo hiểm (risk-oriented ventures) mang lại. Đầu tư có thể đề cập tới đầu tư tài chính hoặc đầu tư công sức và thời gian như là một phần của một cá nhân - người mong muốn thu được lợi nhuận từ thành công trong lao động của mình. Đầu tư hàm ý một ý tưởng của nguyên tắc an toàn là quan trọng.
Đầu cơ là hoạt động mang nhiều rủi ro hơn. Khái niệm đầu tư nêu trên có hai nét đặc trưng cần nhấn mạnh: (i) đầu tư là một phương thức để tạo ra thu nhập, nói cách khác, mục đích của hoạt động đầu tư để tạo 6 ra thu nhập; (ii) Có hai phương thức đầu tư: phương thức sản xuất tạo thu nhập và kinh doanh mang tính mạo hiểm để tạo thu nhập (kinh doanh tài sản tài chính). Kết quả của đầu tư hiện vật tạo ra các tài sản mới và làm tăng khối lượng tài sản và năng lực sản xuất của nền kinh tế. Đầu tư vào tài sản tài chính (mua trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu công ty,v.v…) chỉ dẫn đến thay đổi quyền sở hữu của tài sản tài chính hiện có từ thực thể kinh tế này sang thực thể kinh tế khác.
Theo Từ điển Kinh tế học của Graham Bannock, R.Baxtervà Evan Davis (2004), đầu tư là hoạt động hình thành tài sản thực, như mua mới hoặc duy tu máy móc, xây dựng nhà để tạo ra hàng hóa và dịch vụ dùng cho tiêu dùng trong tương lai. Đầu tư liên quan tới việc hy sinh tiêu dùng hiện tại, tạo ra tư liệu sản xuất dùng để sản xuất hàng hóa, bao gồm cả tích lũy tài sản lưu động. Trong Tài khoản quốc gia, đầu tư là tổng của tích lũy tài sản cố định, thay đổi hàng hóa tồn kho và sản phẩm dở dang. Đầu tư theo nghĩa phổ thông nhất bao gồm những khoản chi tiêu để có được tài sản vật chất và tài sản tài chính.
Các nhà kinh tế không coi chi mua tài sản tài chính là đầu tư mà đơn giản đó chỉ là việc chuyển khoản để dành từ dạng này sang dạng khác. Đây là bản chất của đầu tư vào tài sản tài chính. Qua các khái niệm về đầu tư trích trong các từ điển khác nhau có một điểm chung đó là đầu tư hiểu theo nghĩa rộng bao gồm đầu tư vào tài sản vật chất và vốn nhân lực. Mục đích của đầu tư chính là mong muốn có được lợi nhuận trong tương lai.
Bên cạnh đó, theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tác giả Phan Huy Đường (2010) định nghĩa: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Đặc điểm đầu tư Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây: - Trước hết phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công 7 nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác.
Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. - Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án.
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng (Phan Huy Đường, 2010). Lý luận vốn đầu tư 1.
Khái niệm vốn đầu tư Theo Luật Đầu tư năm 2005, vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp. Định nghĩa về vốn đầu tư có sửa đổi trong luật Đầu tư năm 2014 khi cho rằng: Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Luật Đầu tư năm 2020 (luật số 61/2020/QH14) đã đưa ra khái niệm: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Tác giả Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2012) đã định nghĩa: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài.
nhằm để : tái sản xuất, các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới. Đặc điểm của vốn đầu tư Vốn đầu tư có các đặc điểm chính sau: Thứ nhất, vốn được tích tụ và tập trung đến một mức độ nhất định mới có thể phát huy tác dụng. Thứ hai, vốn phải gắn với chủ sở hữu, khi xác định rõ chủ sở hữu, đồng vốn sẽ được sử dụng hiệu quả. Thứ ba, vốn có giá trị về mặt thời gian, vốn luôn vận động sinh lời và giá trị của vốn biến động theo thời gian.
Vốn đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của vốn nói chung, là thuật ngữ để chỉ các nguồn vốn phân phối cho đầu tư. Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế bao gồm: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế. Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư dùng mua sắm nguyên vật liệu, thuê mướn lao động… làm tăng thêm tài sản lưu động trong kỳ của toàn bộ xã hội. Vốn đầu tư phát triển khác là tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượng môi trường.
Những bộ phận chính của vốn đầu tư phát triển bao gồm: Vốn chi cho công việc thăm dò, khảo sát, thiết kế, quy hoạch ngành, quy hoạch lãnh thổ, vốn chi cho việc thực hiện các chương trình quốc gia. Các nguồn huy động vốn đầu tư a) Nguồn vốn đầu tư trong nước Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích luỹ của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.