lời mở đầu: Nhật Bản đã ký một Hoà ước với Mỹ. Trong quá trình Hoà ước bắt đầu có hiệu lực, Nhật Bản không có một công cụ hữu hiệu nào để thực 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện quyền tự vệ vì Nhật Bản đã bị giải giáp vũ khí. Trong tình thế đó, Nhật Bản có thể sẽ bị nguy hiểm vì trên thế giới vẫn còn chủ nghĩa quân phiệt. Nhật Bản mong muốn có một hiệp ước an ninh với Mỹ… Nhật Bản mong muốn Mỹ duy trì quân đội của mình xung quanh Nhật Bản nhằm đẩy lùi một cuộc tấn công vũ trang vào Nhật [41;561].
Vì lợi ích hòa bình và an ninh, Mỹ đồng ý duy trì quân đội của mình ở trong và xung quanh Nhật Bản… Tuy nhiên, Mỹ hy vọng Nhật Bản sẽ tiến tới chịu trách nhiệm tự vệ chống lại sự xâm lược trực tiếp hay gián tiếp. Nhật cần tránh bất cứ sự vũ trang nào có tính đe doạ hay phục vụ cho các mục đích khác, mà không nhằm thúc đẩy hòa bình và an ninh phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc [41;561]. Nội dung quan trọng nhất của Hiệp ước, đó là : Nhật Bản đồng ý và Mỹ chấp nhận quyền đóng các lực lượng hải, lục, không quân của Mỹ trên đất Nhật nhằm mục đích góp phần duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực viễn Đông, đóng góp vào an ninh Nhật Bản, chống lại các cuộc tấn công vũ trang từ bên ngoài, đàn áp những phong trào lật đổ quy mô lớn trong nước Nhật và những rối loạn ở Nhật gây ra bởi sự xúi giục và can thiệp từ một hay nhiều cường quốc bên ngoài (Điều 1) [42;561] Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật năm 1951 là cơ sở chung để thực hiện mục tiêu chiến lược của mỗi nước. Đối với Mỹ, Hiệp ước này đã chính thức đưa Nhật vào hệ thống các liên minh của Mỹ, biến Nhật thành căn cứ quân sự cho Mỹ, qua đó giúp Mỹ duy trì an ninh ở viễn Đông và ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản (CNCS).
Đối với Nhật, Hiệp ước an ninh với Mỹ là cơ hội để Nhật tái thiết đất nước khi Nhật ở tình thế thất bại hoàn toàn và nền kinh tế bị kiệt quệ. Hiệp ước cho phép Nhật đảm bảo được an ninh nhờ được hưởng “ô hạt nhân” của Mỹ trong 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi Nhật Bản chưa đủ sức tự phòng thủ. Chính bởi những tính toán lợi ích đó, Mỹ và Nhật đã nhanh chóng chuyển đổi từ quan hệ thù địch trong Chiến tranh thế giới thứ hai sang quan hệ đồng minh sau chiến tranh và tiếp tục phát triển hợp tác an ninh chặt chẽ trong Chiến tranh lạnh. Trong Chiến tranh lạnh, học thuyết quân sự của Mỹ là tìm mọi cách giành ưu thế quân sự trên toàn cầu, bao vây, cô lập và tiêu diệt Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Thực hiện mục tiêu đó, Mỹ cho xây dựng các khối quân sự để vừa kiểm soát các đồng minh vừa tạo cơ sở cho các hoạt động quân sự khi cần thiết. Ở Tây Âu, Mỹ cho xây dựng khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO); ở TBD, Mỹ coi việc xây dựng một hiệp ước an ninh lâu dài với Nhật Bản là hết sức cần thiết, thậm chí coi Nhật Bản như một thành viên NATO phương Đông. Trong khi đó, Nhật Bản cần sử dụng chiếc ô an ninh của Mỹ để bảo vệ chính mình. Nỗi lo sợ nhất của Nhật Bản thời kỳ này là khả năng quốc phòng của Liên Xô ngày càng được tăng cường, trong khi đó Nhật chưa đủ điều kiện để tự phòng vệ.
Vì vậy, tiếp theo Hiệp ước an ninh 1951, Hoa Kỳ và Nhật Bản đã thoả thuận ký “Hiệp ước phòng thủ chung” vào ngày 21 - 6 - 1960. Như tên gọi của nó, Hiệp ước này mang tính phòng thủ và tiếp tục là sự áp đặt một chiều của Mỹ đối với Nhật. Theo điều 5 của Hiệp ước thì Hoa Kỳ cam kết phối hợp hành động với Nhật Bản trong trường hợp Nhật Bản bị tấn công. Đổi lại, điều 6 của Hiệp ước thỏa thuận rằng, Nhật Bản đồng ý cho Hoa Kỳ sử dụng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật.
Hiệp ước đã hợp thức hóa sự hiện diện quân sự Mỹ trên lãnh thổ Nhật và thừa nhận Nhật là căn cứ quân sự, là tiền đồn cho quân Mỹ ở khu vực này. Điều này gây nên sự phản ứng mạnh mẽ trong dân chúng và phái tả ở Nhật. Tuy nhiên, chính phủ Nhật hiểu rằng, sự phục hồi của nước Nhật sau chiến tranh chưa tạo cho họ một vị trí đủ mạnh để mặc cả với Mỹ khi ký Hiệp ước này. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong gần hai thập kỷ tiếp theo kể từ sau Hiệp ước năm 1960, quan hệ an ninh Mỹ - Nhật vẫn mang tính chất thiếu bình đẳng và thiếu hợp tác thực tế.
Cho đến năm 1978, khi “Phương châm phòng thủ Mỹ - Nhật” được thông qua và thực hiện, người ta mới nhìn thấy những biểu hiện đầu tiên của hợp tác song phương. Phương châm đã quy định trách nhiệm của mỗi bên trong liên minh quân sự, vấn đề tác chiến, vấn đề tập trận chung và đặc biệt là việc Nhật trợ giúp thêm cho các lực lượng Mỹ. Với sự ra đời của Phương châm phòng thủ Mỹ - Nhật, hai bên đã tìm được tiếng nói chung, hàn gắn được những lỗ hổng vốn tồn tại trong nhiều năm giữa những điều khoản của Hiệp ước và những hoạt động cụ thể trong sự phối hợp của lực lượng quân sự. Mỹ muốn Nhật Bản đóng góp tài chính để cùng với họ đảm bảo cho các căn cứ quân sự hoạt động bình thường tại Nhật.
Vấn đề chia sẻ trách nhiệm được đặt ra và đi đến thống nhất. Sau các cuộc thương lượng, hai bên đã thống nhất với nhau thông qua việc ký một hiệp định về việc Nhật Bản có trách nhiệm tài trợ quỹ lương trả cho những người Nhật Bản làm việc tại các căn cứ Hoa Kỳ trên đất Nhật. Một năm sau, hiệp định tiếp theo được ký kết giữa hai chính phủ mà nội dung của nó là phía Nhật sẽ trợ cấp một phần tài chính cho việc cải thiện điều kiện sống của các quân nhân Mỹ tại các căn cứ quân sự Mỹ trên đất Nhật. Sự thực, Nhật đã nhượng bộ rất nhiều đối với Mỹ.
Tuy nhiên, càng đi sâu vào cuộc Chiến tranh lạnh, chính quyền Mỹ càng cần sự chia sẻ nhiều hơn nữa của các đồng minh. Dưới thời Tổng thống Carter, chính phủ Mỹ đã chính thức yêu cầu Nhật Bản tăng ngân sách quốc phòng của họ lên mức 0,9% của tổng sản phẩm xã hội. Ngược lại, từ những năm 80, hai nước đã thỏa thuận nhiều vấn đề về đẩy mạnh quá trình hợp tác quân sự. Vào năm 1981, Nhật cam kết sẽ tăng cường ngân sách quốc phòng, thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc phòng thủ từ xa.
Hai bên đã đồng ý 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổ chức phối hợp nghiên cứu về khả năng chống lại một cuộc tấn công bất ngờ ở viễn Đông và thực hiện các cuộc diễn tập phối hợp giữa lực lượng quân sự hai bên. Bên cạnh đó, quá trình chuyển giao kỹ thuật quốc phòng được cả hai phía đặc biệt chú trọng, như việc phối hợp sản xuất các loại vũ khí, nghiên cứu và sản xuất các loại máy bay chiến đấu.Bằng những chương trình hợp tác này, quan hệ Mỹ - Nhật được nâng lên một tầm mới, Nhật thực sự trở thành một thành viên NATO phương Đông với đầy đủ ý nghĩa của nó. Những nhân tố tác động đến quan hệ an ninh Mỹ - Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh 1. Môi trường an ninh quốc tế mới Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh lạnh khác về căn bản so với thời kỳ Chiến tranh lạnh, do đó tác động đến sự tồn tại và chuyển hóa của liên minh Mỹ - Nhật trong hơn một thập niên qua và cả trong tương lai.
Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đổ của trật tự thế giới hai cực đứng đầu là Liên Xô và Mỹ. Môi trường an ninh quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc và rộng khắp, từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và ở mọi phương diện. Thế giới đang trong quá trình chuyển tiếp sang trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm và xu thế này đang là xu thế nổi trội. Với sự sụp đổ của một cực Liên Xô, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất, nhưng điều đó không có nghĩa là thế giới ngay sau Chiến tranh lạnh là thế giới một cực như Mỹ mong muốn.
Có thể Mỹ có sức mạnh tương đối lớn hơn so với các nước khác, nhưng Mỹ thực sự không đủ sức mạnh tổng hợp để có thể quyết định mọi công việc của thế giới. Bên cạnh Mỹ còn có sự lớn mạnh của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức khu vực và một thực tế khác trong giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh là khi tình trạng đối đầu Đông - Tây chấm dứt, vấn đề ý thức hệ không còn là nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc tế, thì các 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước vừa và nhỏ có vai trò và tiếng nói đáng kể trong quan hệ quốc tế. Điều này đã làm thay đổi so sánh lực lượng trên thế giới và các chuẩn mực trong quan hệ quốc tế. Sau Chiến tranh lạnh, các quan hệ liên minh kinh tế, chính trị và quân sự của trật tự thế giới vốn đã tồn tại trong suốt 45 năm bị đảo lộn.
Một số liên minh đã không còn lý do để tồn tại và bị giải thể. Một số liên minh khác, trong đó có liên minh Mỹ - Nhật, vẫn được duy trì và phát triển, song cần có sự chuyển biến để thích ứng với tình hình chính trị và an ninh quốc tế mới. Một đặc điểm nổi bật khác sau Chiến tranh lạnh là sự nổi lên của kinh tế trong các yếu tố cấu thành sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia. Nếu như trong Chiến tranh lạnh, trong bối cảnh đối đầu Đông - Tây và căng thẳng trong quan hệ quốc tế, an ninh quân sự chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu trong chiến lược của các nước, thì sau Chiến tranh lạnh, vị trí đó thuộc về yếu tố kinh tế.
Phát triển kinh tế là mục tiêu và ưu tiên số một trong chính sách đối nội và đối ngoại của mỗi nước. Cả Mỹ và Nhật Bản đều có lợi thế lớn trước xu thế mới của thời đại, bởi cả Mỹ và Nhật là hai siêu cường kinh tế số một và số hai của thế giới.