Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về quản lý rừng 1. Cơ sơ lý luận về Phát triển bền vững 1. Khái niệm về phát triển bền vững Phát triển bền vững là khái niệm mới xuất hiện trong một vài thập niên gần đây.
Năm 1987, trong báo cáo của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển, khái niệm phát triển bền vững mới được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế và được định nghĩa như sau: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau". Hay nói cách khác phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người, Nguyễn Đình Hải (2001). Phát triển bền vững là cách thức phát triển hợp lý mà đa số các quốc gia hiện nay đang quan tâm. Theo Uỷ ban Thế giới về môi trường và phát triển (WCED) năm 1987: Phát triển bền vững là sự phát triển sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường hiện có để thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ con người đang sống, nhưng lại phải đảm bảo cho cá thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên và môi trường cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày hôm nay, Nguyễn Bá Ngãi (2006).
Tóm lại phát triển bền vững là cải thiện chất lượng sống của con người trong khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái. Trên cơ sở của các định nghĩa trên, cả hai vấn đề công bằng giữa các thế hệ và sự công bằng trong cùng một thế hệ phải được thoả mãn trước khi bất cứ một xã hội nào có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Phát triển kinh tế xã hội phải theo hướng bền vững và đồng thời đảm bảo tính bền vững n 5 về mặt môi trường. WCED (1987) cũng nhấn mạnh "những nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới phải được ưu tiên trên tất cả", có nghĩa rằng phát triển bền vững phải cho phép gia tăng mức sống (theo nghĩa rộng), với sự chú ý đặc biệt đến cuộc sống của người nghèo, đồng thời phải tránh những chi phí đáng kể và không thể bồi thường được mà thế hệ sau phải gánh chịu.
Đặc điểm phát triển bền vững Phát triển bền vững có các đặc điểm sau: - Sử dụng đúng cách nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm tổn hại hệ sinh thái và môi trường; - Tạo ra các nguồn vật liệu và năng lượng mới; - Ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ phù hợp với hoàn cảnh địa phương; - Tăng sản lượng lương thực, thực phẩm; - Cấu trúc và tổ chức lại các vùng sinh thái nhân văn để phong cách và chất lượng cuộc sống của ngươì dân đều thay đổi theo hướng tích cực. Có khá nhiều mô hình phát triển bền vững, đã được đề xuất. Tuy nhiên, sơ đồ kinh điển mô hình phát triển bền vững thường được đề cập như là sự dung hoà giữa ba lĩnh vực : Kinh tế - Môi trường - Xã hội. Kinh tế Xã hội Môi trường Sơ đồ 1: Mô hình kinh điển về mối quan hệ giữa Kinh tế - Môi trường -Xã hội (Nguồn: Nguyễn Đình Hải, 2001) n 6 Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường.
Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch. Bền vững về xã hội đó là phải xây dựng một xã hội trong có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội. Tính bền vững về mặt xã hội là một câu hỏi đặc biệt liên quan đến các nhóm dân tộc thiểu số. Trong số các nhóm này, hiện đang có các dạng khác nhau của kiến thức bản địa liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ rừng, một số có thể được coi là “truyền thống”, trong khi một số dạng khác có thể được coi là mới.
Việc thực hiện hệ thống quản lý rừng cộng đồng sẽ phải quan tâm đến các dạng kiến thức này nhằm đảm bảo tính bền vững về mặt xã hội của các mô hình quản lý mới. Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên.) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người.) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường trong sạch.
n 7 Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững. Các nguyên tắc của phát triển bền vững Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững tại Rio Janeiro (Braxin) tháng 6 năm 1992 đã đưa ra ý kiến thống nhất của 172 Quốc gia về sự cần thiết phải xây dựng một xă hội bền vững trên trái đất. Đây là xã hội kết hợp hài hòa giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, một xã hội có nền kinh tế và môi trường bền vững. Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, các nhà môi trường đa đề ra 9 nguyên tắc: (1) Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng; (2) Cải thiện chất lượng cuộc sống con người; (3) Bảo vệ sức sống và tính đa dạng trên trái đất; (4) Giảm đến mức thấp nhất sự khánh kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo; (5) Tôn trọng khả năng chịu đựng của trái đất; (6) Thay đổi thái độ và hành vi cá nhân; (7) Giúp cho các cộng đồng có khả năng tự giữ gìn môi trường của mình; (8) Đưa ra một khuôn mẫu quốc gia cho sự phát triển tổng hợp và bảo vệ; (9) Xây dựng khối liên minh toàn cầu.
Cơ sở lý luận về quản lý rừng bền vững Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể n 8 những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Nhìn chung, quản lý rừng bền vững phải đảm bảo 2 nguyên lý, đó là: Thứ nhất, quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra như sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ…; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, phòng chống cát bay, phòng chống sạt lở đất…; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái… Thứ hai, đảm bảo bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể là bền vững về kinh tế là đảm bảo kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao; bền vững về mặt xã hội là đảm bảo kinh doanh rừng phải tuân thủ luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, đảm bảo quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân và cộng đồng địa phương; bền vững về môi trường là kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với hệ sinh thái khác. Như vậy, nguyên lý thứ hai khẳng định sự tham gia của người dân, của cộng đồng là một trong những yếu tố căn bản cho việc quản lý rừng bền vững.
Quan điểm về sự tham gia cũng rất khác nhau. Sự tham gia là một khái niệm không phải là mới nhưng không bao giờ cũ. Nhiều học giả cố gắng lý giải sự tham gia của người dân trong lâm nghiệp như là nền tảng ban đầu mang bản chất của mọi loại hình lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc. Từ “tham gia” có thể phản ảnh nhiều nội dung phong phú, không chỉ đơn thuần chỉ là sự hiện diện hay tham dự trong các hoạt động quản lý rừng từ bấy lâu nay vẫn làm như thông qua thuê, khoán thậm chí là làm công ăn lương.
Sự tham gia trong quản lý rừng không đơn thuần là một thuật ngữ mà đã và đang trở thành một khái niệm, một thực tiễn. n 9 Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sự tham gia. Theo Ngân hàng thế giới, sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể hay các bên liên qua cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng ra quyết định. Năm 1994, Hoskin đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về sự tham gia trong lâm nghiệp, đó là “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng của nam và nữ trong cộng đồng (những người bên trong cộng đồng) với sự hỗ trợ của những người bên ngoài cộng đồng”.
Năm 1996, Hosley đưa ra các mức độ từ thấp đến cao của sự tham gia, đó là: tham gia có tính chất vận động; tham gia bị động; tham gia qua hình thức tư vấn; tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài; tham gia theo chức năng; tham gia hỗ trợ; tự huy động và tổ chức.