Chương I: Tổng quan (5) Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (6) Chương III: Kết quả nghiên cứu (7) Chương IV: Bàn luận (8) Kết luận 8 (9) Kiến nghị (10) Tài liệu tham khảo (11) Các phụ lục Trong luận văn, luận án, ngay trang bìa có: tên cơ sở đào tạo, tên học viên, tên đề tài, năm tiến hành. Trang phụ bìa (i) cũng có cấu trúc như trên, sau mã số chuyên ngành có tên của giáo viên hướng dẫn. Trang (ii) lời cảm ơn, trang (iii) mục lục. Trang (iv) các chữ viết tắt.
Trang (v) danh mục các bảng biểu đồ. Đề tài tốt nghiệp của sinh viên có thể là một phần của đề tài luận văn thạc sỹ hay tiến sỹ, hay đề tài KHCN của giáo viên hướng dẫn là người chủ trì vì vậy không nhất thiết quy định bắt buộc phải cam đoan: “…công trình nghiên cứu của riêng tôi”. Quản lý quá trình thực hiện một đề tài khoa học Trong quá trình thực hiện thu thập thông tin cho nghiên cứu thì việc đảm bảo chất lượng là hết sức quan trọng. Đáng tiếc là rất nhiều đề tài nghiên cứu không coi trọng khâu này, thậm chí không hề nhắc đến trong nhiều tài liệu giảng dạy môn phương pháp nghiên cứu khoa học.
Không quản lý chất lượng nghiên cứu, sẽ không thể thực hiện được đề cương nghiên cứu cho dù đề cương đã được chuẩn bị khá tốt, và tất nhiên là chất lượng của đề tài không được đảm bảo hoặc rất bị động, lúng túng trong quá trình thực hiện. Vì vậy, không đợi đến khi có vấn đề xảy ra rồi mới đề ra các giải pháp xử lý. Trong đề cương nghiên cứu cần chuẩn bị và viết ra các quy trình quản lý nghiên cứu. Có hai nhóm việc chính phải làm đó là: 6.
Kiểm soát chất lượng nghiên cứu (Quality control - QC) Kiểm soát chất lượng nghiên cứu (Quality control - QC) bao gồm các biện pháp và các bước thực hiện trong quá trình tiến hành nghiên cứu để đảm bảo chất lượng của các số liệu, thông tin thu được theo đúng các yêu cầu từ các quy trình chuẩn (Standard Operating Procedure - SOP) thực hiện từng việc, từng công đoạn nghiên cứu – đối với luận văn của sinh viên, giáo viên là người đưa ra hướng dẫn cụ thể. Kiểm soát chất lượng nghiên cứu được bắt đầu bằng việc soạn ra các SOP. Nếu trong nghiên cứu không viết ra các SOP và tập huấn để những thành viên trong nhóm nghiên cứu thực hành thống nhất như nhau thì sẽ không đảm bảo chất lượng. Ví dụ, việc lấy máu để làm xét nghiệm cần quy định không chỉ gồm số mililit máu tĩnh mạch như trong nhiều đề cương thường viết trước đây, mà còn quy định máu lấy vào ngày nào (trong liệu trình điều trị), chất bảo quản là gì, vô trùng ra sao, giữ mẫu ở đâu, nhiệt độ nào, sau bao lâu thì phải gửi về phòng xét nghiệm, gửi bằng phương tiện gì, ai gửi và ai nhận, biên bản giao nhận gồm có những mục cần điền là gì.
Mỗi công đoạn của một nội 9 dung nghiên cứu cần có quy trình riêng, từ khi thu thập thông tin ban đầu đến theo dõi tiến trình (nếu là theo dõi dọc) và kết thúc việc thu thập số liệu, bảo quản hồ sơ gốc, nhập số liệu vào phần mềm và kiểm tra việc nhập số liệu. Dựa trên các SOP, giám sát viên hoặc giáo viên hướng dẫn luận văn dễ dàng kiểm tra chất lượng nghiên cứu. Các nghiên cứu cùng một chủ đề, cùng một mục tiêu nhưng nếu do việc thực hiện đề cương không có các SOP hay có nhưng viết không chặt chẽ hoặc theo một SOP với cách đề cập, kỹ thuật khác nhau dẫn tới chất lượng nghiên cứu khác nhau thì sẽ khó có thể so sánh với nhau. Trong nghiên cứu lâm sàng, nếu có nhiều nhóm nghiên cứu cùng tiến hành song song ở các cơ sở điều trị với các điều kiện đảm bảo chất lượng khác nhau và không theo SOP chung thì số liệu không thể tính toán, xử lý chung với nhau được.
Tương tự như thế đối với các nghiên cứu cộng đồng. Tuy nhiên, các nghiên cứu cơ bản thường bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong các quy trình riêng, vì vậy chất lượng được kiểm soát tốt hơn hai nhóm kia. Để thực hiện QC cần phân công các thành viên nghiên cứu đảm đương từng nhiệm vụ cụ thể. Giám sát/đảm bảo chất lượng (Quality assurance - QA) Là một hệ thống các hoạt động giám sát, hỗ trợ nhằm xác định các biện pháp kiểm soát chất lượng (QC) hoặc các SOP có được thực hiện đúng và đủ hay không.
Đây là nhiệm vụ của chủ nhiệm đề tài và bộ phận/phòng quản lý đào tạo và của giáo viên hướng dẫn. Khi phát hiện những vấn đề không tuân thủ trong nghiên cứu, những nguyên nhân cũng được nêu ra và cuối cùng là giải pháp khắc phục nhằm tăng cường chất lượng nghiên cứu (Quality improvement). Theo dõi tiến độ nghiên cứu và thanh tra nghiên cứu Trong quá trình giám sát các giáo viên không chỉ xem xét việc thực hiện các quy trình chuẩn ra sao mà còn ghi nhận cũng như giúp cho nghiên cứu viên thực hiện theo tiến độ. Các học viên sau đại học thường vì bận, hoặc vì làm việc không theo kế hoạch và cũng có thể không tuyển đủ số đối tượng nghiên cứu vì các lý do khác nhau nên tiến độ thường bị chậm, việc theo dõi của các giảng viên là rất quan trọng.
Việc theo dõi có thể gián tiếp dựa trên báo cáo định kỳ hàng quý của học viên gửi về cho giáo viên theo mẫu báo cáo đã chuẩn bị trước. Mẫu báo cáo này có thể bao gồm cả những sự cố không mong muốn (trong nghiên cứu lâm sàng ở các mức độ khác nhau: không trầm trọng (Adverse Effect – AE) và trầm trọng (Serious Adverse Effect – SAE) cùng với các biện pháp xử trí các sự cố này theo SOP) và nghiên cứu cộng đồng có thể là các tình huống làm cho không thể tuân thủ các SOP hay chậm tiến độ cùng 10 các biện pháp xử trí. Qua đây giáo viên hướng dẫn hay cơ quan quản lý biết và tăng cường hỗ trợ. Giáo viên hướng dẫn là người chịu mọi trách nhiệm trước cơ sở đào tạo về đề tài mà sinh viên của mình thực hiện.
Sinh viên khi thực hiện đề tài không được làm gì trái pháp luật với tư cách là một công dân. Thanh tra nghiên cứu chỉ thực hiện khi có các vi phạm nghiêm trọng các quy định quản lý nghiên cứu khoa học hay nguyên tắc thực hành chuyên môn và sự cố lớn xảy ra trong quá trình nghiên cứu để quy kết trách nhiệm cho các bên liên quan. Thanh tra được thực hiện bởi các thanh tra viên và các nhà chuyên môn được mời. Những gian lận trong nghiên cứu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hoặc bị bác bỏ các kết quả nghiên cứu, ngay cả khi Hội đồng đã chấm và chấp thuận.
Tạm dừng, dừng và kết thúc nghiên cứu Tạm dừng nghiên cứu: có hai hình thức tạm dừng nghiên cứu, đó là dừng không tiếp tục nghiên cứu trên một nhóm hay một người bệnh, đối tượng nghiên cứu và dừng không tiến hành nghiên cứu tại một địa điểm. Lý do: (1) Do bản thân đối tượng: không tuân thủ quy trình nghiên cứu, không hợp tác, có nguyện vọng dừng nghiên cứu vì bất cứ lý do gì, xuất hiện những tác dụng không mong muốn ở mức nguy hiểm và các lý do khác làm cho đối tượng không đảm bảo các tiêu chí để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Trường hợp cá nhân dừng nhưng sau đó lại đồng ý trở lại nghiên cứu phải được cân nhắc thật cẩn thận, vì có thể không còn đảm bảo các tiêu chí để được chọn vào mẫu nghiên cứu. (2) Do địa điểm nghiên cứu không tuân thủ hoặc do một lý do nào đó không còn đủ các tiêu chí quy định khi tham gia nghiên cứu.
Trường hợp tiến hành nghiên cứu tiếp sau khi tạm dừng, phải bắt đầu như từ đầu nghĩa là người bệnh/hay đối tượng nghiên cứu phải được chọn lại. Nếu do vi phạm quy trình nghiên cứu, mọi khuyết điểm phải được khắc phục để đảm bảo tiêu chí của một điểm nghiên cứu. Dừng nghiên cứu: có thể do lý do thất bại trong điều trị hoặc/và không đủ độ an toàn đối với đối tượng nghiên cứu như dự kiến. Cũng có thể do cơ sở nghiên cứu không chấp nhận tiếp tục hay do đến một giai đoạn các kết quả nghiên cứu cho thấy đã đủ để thực hiện được mục tiêu.
Khá nhiều nghiên cứu lâm sàng chỉ dựa vào đề cương đã được duyệt trước đó, không có sự giám sát chặt chẽ của giáo viên hướng dẫn hay phòng quản lý đào tạo hoặc phòng NCKH (với đề tài thử nghiệm lâm sàng) không chú ý đến tính an toàn hay các tác dụng ngoài ý trầm trọng cũng như những thất bại trên số đông người bệnh (nếu là can thiệp lâm sàng). Điều này cho thấy sự vi phạm ngyên tắc GCP. Nên nhớ, 11 trong nghiên cứu lâm sàng, cần coi việc đảm bảo tính an toàn cho đối tượng là quan trọng nhất. Nếu chúng ta quyết định được nghiên cứu thì cũng sẵn sàng chấp nhận dừng nghiên cứu một khi nghiên cứu không đảm bảo an toàn cho đối tượng.
Rất tiếc là khi Hội đồng đánh giá luận văn thường ít chú ý đến các biện pháp bảo vệ sự an toàn. Trong nhiều văn bản hướng dẫn làm luận văn, luận án không để cập một cách đầy đủ đến yêu cầu đảm bảo an toàn và quyền cũng như quyền lợi của đối tượng. Cũng không đề cập tới tính pháp lý, nghĩa là trách nhiệm trực tiếp của người nghiên cứu cũng như đối tượng cả trong thực hành nghề nghiệp và trong nghiên cứu khoa học. Hội đồng chỉ cho phép nghiên cứu với điều kiện đảm bảo tính khoa học, tính an toàn và các quy định về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
12 Bài 2 CHỌN CHỦ ĐỀ VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu 1. Chọn chủ đề nghiên cứu phù hợp. Đặt được mục tiêu đúng và khả thi cho đề tài nghiên cứu khoa học. Đặt câu hỏi nghiên cứu cho các mục tiêu và nội dung xác định.
Chọn chủ đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm Trong y học, nghiên cứu khoa học có ba cách tiếp cận chính sau đây: 1- Nghiên cứu lâm sàng 2- Nghiên cứu thực nghiệm 3- Nghiên cứu cộng đồng Trên cơ sở ba cách tiếp cận trên, có thể có sự kết hợp hai hoặc cả ba cách tiềp cận với nhau.