Chương I KHOA HỌC 1. KHÁI NIỆM “KHOA HỌC” Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về khái niệm khoa học xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chúng ta có thể xem xét 4 định nghĩa từ các góc độ sau: 1. Khoa học là một hệ thốpg tri thức Khoa học là "hệ thống tri thức về mọi loại quy luật cùa vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy "(3).
Định nghĩa này được UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc) sử dụng trong các văn kiện chính thức và cũng dược thừa nhận chung trong giới nghiên cứu trên thế giới. Hệ thống tri thức được nói ở đây là hệ thống tri thức khoa học. Khoa học, trong trường hợp này, được hiểu như một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích luỹ từ trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo của nhân loại. Khi nói tri thức khoa học, các nhà nghiên cứu muốn phân biệt với tri thức kinh nghiệm, với những đặc diêm khác biệt sau đây.
a) Tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách rời rạc, có thế là ngẫu nhiên từ kinh nghiệm sống. Con người cảm nhận thế Pierre Auger: Tendences actuelles de ta recherche scientifique. UNESCO, Paris, I96l, Ir. 12 giới khách quan từ khi chào đời, chịu sự tác động của thế giới khách quan buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động và trong ứng xử.
Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống cùa con người, những hiểu biết, kinh nghiệm được tích luỹ hằng ngày ban đầu là những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ, tiếp sau hình thành những mối liên hệ mang tính hệ thống. Tri thức kinh nghiệm đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống. Nhờ tri thức kinh nghiệm, con người có được những hình dung thực tế về các sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biêt ứng xử trong các quan hệ xã hội, và cuối cùng, tri thức kinh nghiệm đã giúp con nuuìri giải quyết hàng loạt vấn đề nảy sinh trong tự nhiên, xã hội dê có thê tồn tại và phát triển. Tri thức kinh nghiệm ngày càng được phát triên đa dạng và phong phú và là cơ sở cho sự hình thành các tri thức khoa học.
Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chi giúp cho con người phát triển đến một khuôn khổ nhất định, không thể vượt khỏi những giới hạn về mặt sinh học của chính mình. b) Tri thức khoa học Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, được vạch sẵn theo một kế hoạch, có mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học. Tri thức khoa học khác cơ bản với tri thức kinh nghiệm ở chỗ, nó là sự tổng kết từ những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hoá thành những cơ sở lý thuyết về lôgic tất yếu. Khi nói đến tri thức khoa học là nói đến những kết luận về quy luật tất yếu đã được khảo nghiệm và kiểm chứng.
Do vậy, khi nói đến một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học hoặc một tác phẩm khoa học là nói đến một sản phẩm của quá trình nghiên cứu dựa trên một hệ thống tri thức khoa học đã hoặc sẽ được khảo nghiệm bằng các phương phẩp khoa học, nham vào mục đích nhận thức khoa học về sự vật được xem xét. Những sản phâm này khác cơ bản với một báo cáo nghiệp vụ, một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc .một văn bản pháp lý, là những sản phẩm cùa các loại hoạt động lao động 13 hoàn toàn khác; với những mục đích, phương pháp, hình thức thê hiện và chức năng xã hội hoàn toàn riêng biệt. Có thể lấy ví dụ về sự phân biệt tri thức kinh nghiệm với tri thửc khoa học sau: Khi cảm thấy oi bức, một người bình thường biêt là trời sắp mưa, đó là nhờ hiểu biết kinh nghiệm. Nhưng trong khoa học, người ta không dừng ở đây mà phải lý giải các hiện tượng có liên quan băng các luận cứ khoa học.
Chẳng hạn, oi bức có nghĩa là độ ẩm trong không khí đã tăng đến một giới hạn nào đó. Điều này cho phép rút ra kêt luận khoa học: sự tăng độ ẩm trong không khí đến một giới hạn nào đó là dâu hiệu cho biết là trời sắp mưa. Đó chính là hiểu biết khoa học. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuồn khô các bộ mồn khoa học (discipline), chẳng hạn: Xã hội học, Sử học, Kinh tê học, Toán học, Vật lý học, Hoá học, Sinh học, v.
Khoa học là một hoạt động xã hội Nếu như khởi thuỷ khoa học là mối quan tâm mang tính cá nhân của nhừng thiên tài, thì khoa học ngày nay đã trở thành một hoạt động nghê nghiệp dược xã hội hoá cao độ. Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, hướng vào việc tìm kiểm những điều chưa biết, là một loại lao động gian khố, nhiều rủi ro. Vứi tư cách là một hoạt động xã hội, khoa học định hướng tới những mục tiêu sau: - Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức vê thê giới. - Dựa vào quy luật đã nhận biết cùa sự vật mà dự báo quá trình phát Iriỏn cua sự vật, lựa chọn hướng đi cho mình dế tránh hoặc giảm thiêu các rui ro.
Sáng tạo các sự vật mới phục vụ những mục tiêu tôn tại và phát triẽn ban thàn con người và xã hội của con người. Màng loạt khái niệm mới đã xuất hiện đi liền với ý nghĩa này. Chăng hạn, hoạt dộng khoa học, ngành khoa học, tổ chức khoa học, chính sách khoa học. Tương tự người ta cũng có các khái niệm nhà khoa học, cơ quan khoa học, v.
Khoa học là một hình thái ỷ thức xã hội Triết học xem khoa học là một hình thái ý thức xã hội(4). Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học cùng tồn tại bên cạnh các hình thái ý thức xã hội khác, như một hình thức phản ánh thế giới khách quan và tồn tại xã hội vào ý thức của con người, như một sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn. Các hình thái ỷ thức xã hội khác nhau ở đối tượng và hình thức phản ánh. Chúng cũng khác nhau về các chức năng xã hội và tính độc đảo của các quy luật phát triến^K Nhận thức này rất quan trọng trong phương pháp tư duy khoa học, thậm chí còn đóng vai trò là tư tương chu đạo trong tư duy khoa học.
Nó đòi hỏi phải vừa xem xét mổi quan hệ hữu cơ giữa các hình thái ý thức xã hội, song mặt khác, vẫn phải giữ tính dộc lập cao trong tư duy khoa học, không để bị chi phối bởi những ràng buộc của các hình thái ý thức xã hội khác. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đổi với các hình thải ỷ thức xã hội khác. Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đổi tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt. Đây là một nhận thức có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau.
Điều cần lưu ý đối với người nghiên cứu và người quản lý nghiên cứu là, mỗi phát hiện mới về quy luật, hoặc sáng tạo mới về các giãi pháp đều hoàn toàn có khả năng phái chấp nhận sự va chạm với các định kiến xã hội, thậm chí là những đụng dộ gay gắt. nếu như sự phát hiện hoặc sáng tạo đó khác biệt với truyền thống tư duy, tập tục dân tộc, tín điều tôn giáo,. những điều đã ăn sâu trong dời sống xã hội. Trong quan hệ giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác, có một vấn đề thường xuyên được thảo luận trong lịch sử khoa học.
(Chú biẻn), Từ điên Triết học. Nxb Tiến bộ, Moskva, I975, tr. '5) Sách đã dẫn: Xem (4), tr. 15 "Tà quan hệ giữa khoa học xã hội và chính trị.
Có ba loại ý kiến thường được đặt ra: khoa học xã hội là chính trị, đồng nhất với chính trị; khoa học xã hội là công cụ phục vụ chính trị; và, khoa học xã hội có quan hệ mật thiết với chính trị, mang trong mình bản chất chính trị. Cuộc thảo luận này luôn xuất hiện không chi trong giới nghiên cứu ở nước ta, mà cả ở các nước phương Tây, và là một nội dung được quan tâm trong các nghiên cứu thuộc bộ môn xã hội học chính trị về khoa học (political sociology of science). Quan điểm chính thống ở nước ta hiện nay cho rằng, nghiên cứu khoa học xã hội phải góp phần hình thành luận cứ cho việc xây dựng đường lối chính trị, và phản biện cho đường lối chính trị. Đây là một luận điểm hoàn toàn phù họp với quy luật hình thành và phát triển của khoa học xã hội.
Trong một cuốn sách xuất bản năm 1995, Martyn Hammersley thể hiện sự đồng tình với những người có quan điểm cho rằng(6): nghiên cứu khoa học xã hội không trực tiếp nhắm vào mục tiêu chính trị, nhưng không có nghĩa là thờ ơ với chính trị, và ông cũng không đồng tình với quan diêm cho rằng khoa học xã hội là trung lập với chính trị. Comte và Durkheim, hai trong số những người sáng lập Khoa Xã hội học cho rằng(7): "toàn bộ vấn đề cùa việc tìm kiếm tri thức khoa học xã hội là tìm ra những nguyên tắc chính xác cho một xã hội tốt lành, có trật tự, thống nhất". Điều này có nghĩa rằng, khoa học xã hội không thể tách rời công cuộc nghiên cứu của mình với các biến đổi xã hội liên quan đên những cuộc đấu tranh chính trị vì tiến bộ xã hội, là điều gắn liền với các cuộc cách mạng trong lịch sử nhân loại. Chính vì vậy, trong khoa học xã hội luôn diễn ra những cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa một bên là các trường phái khoa học phù hợp với xu thế tiến bộ xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội với một bên là các trường phái đi ngược lại xu thế tiến bộ xã hội.
Chính ở đây, nhu cầu ,ú> Martyn Hammersley, The Politics o f Social Research, Sage Publications, London, 1995. Webster, Nhập môrt Xã hội học. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.543 (Bàn dịch tiếng Việt cùa Phạm Thuỳ Ba.