Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC Các HHDN đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, là cầu nối giữa DN với Nhà nước, giữa DN với cộng đồng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh cho các DN. Để nâng cao năng lực, phục vụ tốt hơn khách hàng là DN hội viên và phát triển bền vững tổ chức hiệp hội của mình, các HHDN VN cần xây dựng chiến lược phát triển cho tổ chức của mình. Tuy vậy hiện nay có rất ít hiệp hội đã xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển tổ chức của mình do việc hoạch định chiến lược còn phức tạp, tốn kém và khó khăn đối với hiệp hội. Để thực hiện Đề tài luận án tiến sĩ “Xây dựng phương pháp và bộ công cụ hoạch định chiến lược cho các HHDN VN” tác giả đã tiến hành tổng quan nghiên cứu theo các nội dung chính gồm: 1) Tổng quan các nghiên cứu về HHDN; 2) Tổng quan các nghiên cứu về chiến lược và hoạch định chiến lược.
Nội dung cụ thể như sau: 1. Tổng quan nghiên cứu về hiệp hội doanh nghiệp Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội có nội dung về hiệp hội nói chung và HHDN nói riêng. Theo Điều 2 của Nghị định này, HHDN được coi là một loại hình của "hội", hoạt động "không vụ lợi" có nghĩa là phi lợi nhuận. Điều 3 của Nghị định này quy định các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội trong đó có nguyên tắc: "4.
Không vì mục đích lợi nhuận". Báo cáo nghiên cứu “Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng, vai trò và hoạt động” (Nguyen Phuong Quynh Trang và ctg, 2002) đã tiến hành khảo sát các HHDN và DN tại Việt Nam nhằm xác định và đánh giá những đặc điểm chính cũng như những điều kiện hoạt động của các HHDN VN. Trong báo cáo này, các tác giả cũng trình bày đặc điểm của HHDN VN là tổ chức phi lợi nhuận. Các tác giả cũng đã 9 phân tích thực trạng năng lực của các HHDN VN trong việc hỗ trợ DN Việt Nam.
Báo cáo cũng cung cấp kiến thức về các loại dịch vụ mà HHDN VN đang cung cấp và các đối tượng khách hàng chủ yếu của các dịch vụ này. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một báo cáo nghiên cứu về các HHDN VN mà chưa đưa ra một mô hình hay bộ công cụ hoạch định chiến lược (CL). Thông tin về các loại dịch vụ mà HH đang cung cấp và các đối tượng khách hàng chủ yếu của hiệp hội mà báo cáo chỉ ra có thể được sử dụng để xây dựng phương pháp nghiên cứu thực hiện Đề tài này. Bộ công cụ do Ngân hàng Thế giới đề xuất cho đánh giá năng lực các tổ chức tương tự HHDN (The World Bank, 2005) sử dụng các chỉ tiêu gồm: (1) Quản trị dân chủ và độc lập; (2) Số lượng hội viên là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV); (3) Cam kết và tầm nhìn của ban lãnh đạo; (4) Xu hướng gánh vác các vấn đề của DNNVV; (5) Sự bền vững tài chính; (6) Số lượng và chất lượng của nhân viên; (7) Văn phòng, trang thiết bị; (8) Vận động chính sách và cung cấp dịch vụ cho các DNNVV.
Bộ công cụ này tương đối trực quan. Tuy nhiên, bộ công cụ này lại không đi sâu đánh giá chất lượng hoạch định chiến lược và hỗ trợ hoạch định chiến lược phát triển tổ chức của các HH. Bộ công cụ này còn thiếu khả năng định lượng rõ ràng và thống nhất nên sẽ khó ứng dụng trong bối cảnh năng lực quản trị của các hiệp hội hiện nay còn tương đối hạn chế. Ấn phẩm “Hành trình hướng tới sự liên kết: Thực tiễn tốt trong hoạt động của các HHDN VN” (VCCI và The Asia Foundation, 2015), qua nghiên cứu về hoạt động của các HHDN VN trong cả nước và các bài học kinh nghiệm quốc tế đã xây dựng, khảo sát ý kiến để xác định bức tranh toàn cảnh về hoạt động của HHDN VN tại thời điểm đó.
Tài liệu gồm hai phần chính: Phần 1 - Các thực tiễn tốt trong hoạt động của HHDN VN, mô tả các hoạt động chiến lược mà các hiệp hội có thể thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, phát triển và đạt được tôn chỉ, mục đích của mỗi hiệp hội, đảm bảo nguyên tắc phi lợi nhuận. Mặc dù được nghiên cứu tổng kết dưới dạng thực tiễn tốt, các hoạt động chiến lược của HHDN VN đã được mô tả rõ ràng và có thể sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu thực hiện Đề tài này. 10 (VCCI, 2013) là báo cáo khảo sát năng lực của HHDN VN do VCCI thực hiện. Báo cáo sử dụng thống kê mô tả để trình bày tình hình hoạt động của các HHDN Việt Namvề các mặt: Vai trò của HHDN VN trong việc làm cầu nối chính sách giữa DN hội viên và các cơ quan Nhà nước; Năng lực của HHDN VN về mặt quản trị nội bộ.
Báo cáo nghiên cứu này sẽ có đóng góp tốt hơn nếu được thiết kế thích hợp và sử dụng kết quả để phân tích chiến lược trong hoạch định chiến lược của HHDN VN. Trong phần đánh giá năng lực thực hiện công tác làm cầu nối chính sách giữa DN và Nhà nước của các HHDN VN, báo cáo cung cấp một số căn cứ để xây dựng khung nghiên cứu và phân tích về năng lực của HHDN VN trong lĩnh vực này. Năng lực quản trị và định hướng chiến lược 4 3 Năng lực xây dựng Năng lực tài chính và phát triển cộng 2 và cơ sở vật chất đồng doanh nghiệp 1 Năng lực vận động Năng lực phục vụ chính sách hội viên Hình 1. 1 Năng lực quản trị chiến lược của các HHDN cấp tỉnh Nguồn: (VCCI, 2013) Một số phát hiện cụ thể từ báo cáo gồm: Năng lực của CBNV của các hiệp hội được đánh giá còn hạn chế.
Số lượng hiệp hội cho rằng năng lực CBNV đáp ứng đầy đủ nhu cầu của hiệp hội chỉ khoảng 12%; đáp ứng cơ bản yêu cầu công việc khoảng 61%, đáp ứng một phần công việc khoảng 25%. Nhiều hiệp hội chưa đầu tư và chú trọng đúng mức cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực mà cụ thể là đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ. Trung bình, chỉ khoảng 28% hiệp hội tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho nhân viên hiệp hội 2 lần trở lên/năm, 55% chỉ tổ chức 1 lần/ năm. Chỉ có 17% hiệp hội thực hiện nghiên cứu đầy đủ về nhu cầu khách hàng; Chỉ 41% hiệp hội thường xuyên chọn lựa thông tin cung cấp theo ý kiến của các hội 11 viên, 36% theo ý chí lãnh đạo hiệp hội; Chỉ 1/3 số hiệp hội tham gia điều tra chọn lựa hoạt động xúc tiến thương mại theo ý kiến hội viên, số còn lại chủ yếu theo ý chí lãnh đạo hiệp hội; Công tác giám sát, đánh giá chất lượng dịch vụ vẫn mang nặng tính hình thức; Các hiệp hội vẫn chưa thể thu hút đông đảo hội viên tham gia, chỉ có 17% hiệp hội thu hút được rất đông hội viên tham gia.
Economica Vietnam, VCCI, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) năm 2011 phối hợp thực hiện nghiên cứu “Đánh giá chẩn đoán năng lực hiệp hội theo tiêu chí hiện đại: Nâng cao công tác quản trị chiến lược và quản lý hiệp hội” đưa ra bảy nhóm tiêu chí đánh giá và chẩn đoán năng lực hiệp hội (CIEM, Economica Vietnam, VCCI, 2011). Các tiêu chí gồm: (1) Quản trị minh bạch, dân chủ và độc lập; (2) Hội viên và hội phí; (3) Tài chính của hiệp hội; (4) Nhân lực của hiệp hội; (5) Văn phòng, trang thiết bị và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của hiệp hội; (6) Hoạt động vận động chính sách; và (7) Khả năng cung cấp dịch vụ. Trên cơ sở nghiên cứu này, năm 2015 Bộ công cụ đánh giá năng lực của HHDN đã được VCCI phát triển và công bố trong ấn bản “Hành trình hướng tới sự liên kết: Thực tiễn tốt trong hoạt động của các HHDN VN” (VCCI và The Asia Foundation, 2015). Mặc dù chỉ phân tích dựa trên cơ sở các thông tin thứ cấp nhưng (CIEM, Economica Vietnam, VCCI, 2011) cũng giúp cung cấp các căn cứ để nghiên cứu và phân tích về các loại dịch vụ mà HHDN VN đang cung cấp cũng như các đối tượng khách hàng chủ yếu của hiệp hội.
Mặc dù cung cấp được một số thông tin và kiến thức nền, báo cáo chủ yếu tiếp cận thông tin qua dữ liệu thứ cấp và không vận dụng các phân tích bằng mô hình khoa học nên đây cũng là hạn chế của báo cáo. (Nguyễn Hồng Sơn, 2010) là bài nghiên cứu trường hợp về hiệu quả hoạt động của HHDN Thành phố Hà Nội trong bối cảnh về sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Bài viết đã làm rõ quá trình phát triển của Hiệp hội, hiện trạng hoạt động và đánh giá các mặt hoạt động chủ yếu của Hiệp hội. Bài viết đã chỉ rõ những hoạt động đặc trưng của một HHDN đa ngành cấp tỉnh bao gồm: 1) Góp ý về cơ chế chính sách để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của DN; 2) Phổ biến các chủ trương, chính sách tới DN, làm cầu nối giữa các DN hội viên với các cấp chính quyền, giữa hội viên 12 với các DN khác trong và ngoài nước; 3) Tổ chức cung cấp thông tin, quảng bá DN, giao lưu liên kết; Hỗ trợ DN trong xúc tiến thương mại và đầu tư; 5) Đào tạo nâng cao năng lực kinh doanh cho các DN hội viên và DN trên địa bàn; 6) Thực hiện các hoạt động kết nối cộng đồng và từ thiện.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bài viết đã thông qua cách tiếp cận “state-in-society”, trong đó cho rằng công tác quản trị công cần được cùng chăm lo bởi cả tổ chức nhà nước và tổ chức xã hội. Phương pháp tiếp cận này cung cấp một khuôn khổ cho việc cùng tham gia có chủ động của cả các tổ chức nhà nước và các tổ chức xã hội. Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận này đã giúp phát triển khung lý thuyết và đã được kiểm tra thông qua Trường hợp của Hiệp hội của các DNNVV tại TP HCM về vai trò làm cầu nối của họ giữa DN với chính quyền thành phố. Kết luận của nghiên cứu cho rằng các HHDN nên được nhà nước hỗ trợ và họ sẽ kết hợp với Nhà nước để phục vụ các lợi ích công cộng.