Chương 1: LICH SU NGHIÊN CỨU VAN DE 1. Lich sử nghiên cứu vẫn dé HĐGD với chức năng chủ yếu là giúp HS hình thành thé giới quan khoa học và những phâm chất nhân cách của người công dân, người lao động là một trong những đẻ tài được các nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tam. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài a) Ngay từ thời cô đại đã có rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu vẻ HDGD và PPGD. Quách Ty Liêng (118 - 42 TCN) là một trong những nhà triết học La Mã cô đại.
Ong quan tâm đến việc tạo cho trẻ niềm vui trong học tập, vì thé, theo ông, HĐGD phái hết hợp học tập và nghỉ ngơi, vui chơi giải trí. Trong quan niệm vẻ giáo dục cua minh, Quách Ty Liéng còn chú trọng đến thuyết phục và tích cực chéng lại lôi giáo dục băng roi vọt. Theo Aristote (384 -322 TCN), một nhà triết học Hy Lạp cô đại, con người có ba thành tổ: xương thịt, ý chí và lí trí; vì vậy nội dung giáo dục cũng phải tương ứng: giáo dục thẻ chất, đạo đức, trí tuệ. Ông quan niệm rằng, trẻ em phát triển qua ba thời kì: 0-7 tuổi, 7-14 tuôi, 14-21 tudi và mỗi thời kì đều có những đặc điểm riêng, trong đó cần chú ý đến tudi dậy thì (14 tuôi).
Ngoài ra, ông còn nhân mạnh đến vai trò của giáo dục gia đình, đặc biệt là của người mẹ [24, tr. Socrate (469 - 339 TCN) là một triết gia được mệnh danh là bậc thay của truy van ở Hy Lạp cô đại. Ông theo trường phái duy tâm chủ quan và nôi tiếng về sự hoài nghỉ cùng cách day học hỏi — đáp dé tự tìm ra chân lí. Phương pháp này còn được gọi là “thuật đờ de” hay “phương pháp Socrate”, đây là mẫu mực vẻ cách dùng dam thoại trong HĐGD [24.
Platon (427 - 348 TCN) là học trò của Socrate, ông đánh giá rất cao vai trò của giáo dục. theo ông giáo dục giúp cho con người có lí trí. Cũng như Aristote, ông đẻ cao vai trò của giáo dục gia đình, của người mẹ. Do vậy, ông chủ trương giáo dục mẫu giáo theo cách của người mẹ.
Bên cạnh đó, theo quan điểm của Platon trẻ lớn có thê học cả ở trường và ngoài trời, giáo dục phải có chọn lọc dé có thé phù hợp với khả năng của từng người, ai học giỏi thì sẽ được học lên mãi [24, tr. Đêmöcrit (460 — 370 TCN) là một trong những người theo quan diem duy vật ở Hy Lạp cô đại, ông cho rằng, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất thì mới có kết quả tốt. Đây là một quan điểm quan trọng trong tư tưởng về giáo dục của Đêmôcrit, nghĩa là giáo dục cần phải chuẩn bị cho người lao động, điều này được phan ánh trong nội dung giáo dục. Ngoài ra, ông còn để cao việc học tập tri thức tự nhiên và không giáo dục tôn giáo cho trẻ em [24, tr.
Vào thời Xuân Thu Chiến Quéc, Không Tứ là một trong những nhà giáo vĩ đại của Trung Hoa. Trong quá trình HĐGD ông đã sáng tạo và vận dụng nhiều PPGD rất tiễn bộ so với đương thời như: phương pháp phù hợp với đối tượng, hỏi - đáp, liên hệ thực tế, phát huy tính tích cực của học trò, quan hệ thay trò thân thiện. Ong đã dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ dé năm vững van dé. Hơn the nữa dé củng có kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, ông đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành né nếp, thói quen trong học tập, theo hướng "ôn cũ dé biết mới”.
Dé gắn nội dung giáo dục với cuộc sóng, Không Tử dùng phương pháp doi thoại, yêu câu HS liên hệ những điều đã học vào thực tế hàng ngày [24, tr. b) Dén dau thé ki XVII, nhà giáo dục người Tiệp Jan Amos Comenxki (1952 - 1670) đã phat trién và hệ thong hóa những tri thức vẻ giáo dục đề đáp img đòi hỏi của việc dạy học trong hệ thông trường lớp. Comenxki hết sức tin tương vào tác dụng của giáo dục. Ong quan niệm chi có giáo dục mới làm cho người ta trở nền một con người đáng là con người; nhà trường là công xưởng ché tạo ra nhân đạo, ra hạnh phúc, ra con người chân chính.
Vi vậy, theo ông, mọi người déu phải học, nhưng tudi cân học hơn ca là tuôi trẻ, bởi “sáp mém thì bóp, nặn dé dàng: cứng rỏi, thì làm mạnh sé gãy”. Một trong những đóng góp to lớn của ông vào lý luận và thực tiễn giáo dục là hệ thống các PPGD. Trong đó phương pháp nêu gương và phương pháp kỷ luật là hai phương pháp quan trọng trong tư tưởng giáo dục của Comenxki. > Phương pháp nêu gương Vẻ phương pháp giáo dục, Comenxki tìm thấy sự thích ứng với thiền nhiên ở chỗ lấy nhận thức, lấy hành động dé hình thành hành động, lay sự vâng lời dé hình thành sự vâng lời.Do đó ông quan tâm đến phương pháp nêu gương cho học sinh bắt chước, đặc biệt là sự gương mẫu của thảy giáo, cha mẹ và những người thân khác; dong thời tách học sinh ra khỏi những hiện tượng xâu xung quanh.
> Phương pháp kỷ luật Vẻ ký luật trong nhà trường Comenxki đã có những ý kiến đúng đắn và tiến bộ. Trước hết, ông chỉ ra ý nghĩa hết sức to lớn của ký luật trong nhà trường, bằng cách mượn câu ngạn ngữ Tiệp: “Nha trường mà thiếu kỷ luật thi như chiếc côi xay thiểu nước”. Ong cũng nêu rõ mục đích của việc vận dụng ky luật trong nhà trường: “Kỷ luật phải thi hành đổi với những quy định chung, không phải vì họ vị phạm mà vì dé ho đừng vi phạm nữa”. khi vận dụng ky luật vào giáo dục ông cho răng: “Sw dụng kỷ luật thì không được nhu nhược, không giận dit, không phái han thù mà phải là sự trong sáng, chân thành có thẻ khiển cho người vi phạm ky luật nhận thấy phải sử dụng trách phạt doi với mình là vì lợi ích cua chính họ và vì tình thương 13 yêu cua thay giáo đôi với họ như cha mẹ họ đổi với họ".
Ong cực lực phan đổi ky luật roi vọt thời Trung cố, vì theo ông, roi vọt chang ích lợi gì khi ta muốn khêu gợi cho trẻ lòng yêu men nhà trường, trái lại nó chi làm cho trẻ càng sợ. càng cảm ghét nhà trường mà thôi. Qua van dé này Comenxki đã thê hiện tính nhị nguyên của mình, một mặt ông bác bỏ việc trách phạt băng roi vọt trong học tập với kết quả kém, nhưng mặt khác thì ông vẫn giữ trong trường hợp néu học sinh thiểu tôn sing Chúa hoặc ương bướng. Ngoài ra, trong quan niệm vẻ giáo dục của mình, Comenxki còn nhân mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em.
Theo ông giáo dục phải phù hợp với trình độ và độ tuôi, vừa sức, theo quy luật tự nhiên, chú ý đến tính hệ thống, cân đối, hài hòa của chương trình học. Ông coi trọng cả giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẻ chất, thằm mỹ, công nghệ; phát huy hửng thú, tích cực, độc lập, từ cụ thẻ đến trừu tượng, từ dé đến khó, trực quan, coi trọng kỷ luật tự giác, dé cao vai trò của thay giáo, tiếng mẹ đẻ, chủ trương giáo dường sớm, tôn giáo và tự do gan liên với nhau, bình đăng, nhân đạo. c) Bước sang thé ki XX, với các tác phẩm như “Bai ca sư phạm" (1933- 1935), “Ngon cờ trên tháp” (1937-1938), "Cuốn sách dành cho các phụ huynh” (1937).Makarenco đã được biết đến không chỉ với tư cách là một nhà văn có tài, mà còn là một nhà giáo Xô - Viết lỗi lạc. Những quan điềm cùng tư tướng giáo dục của ông căn cứ vào học thuyết Mác - Lénin về giáo duc, được thé nghiệm qua hoạt động thực tiễn tại trại Gooc - ki và công xã Dee - din - xki.
Từ cuộc đời hoạt động giáo dục phong phú của mình, Makarenco đã có những đóng góp không nhỏ vào kho tàng lý luận giáo dục và hoạt động tô chức giáo dục. Một trong những đóng góp xuất sắc của Makarenco là ông đã sáng tạo ra nhừng PPGD nhân cách con người XHCN. Hệ thông PPGD của l4 Makurenco dựa trên quy luật của sự phát triên xã hội - XHCN, mồi quan hệ biện chứng giữa mọi quá trình phát triên xã hội. kinh tế, chính trị và giáo dục, quy luật vẻ bản chất con người, tính hệ thông, tính liên tục cua quá trình hình thành nhân cách dưới tác động của các yếu tổ hoàn cảnh giáo duc, bam sinh di truyền và mỗi quan hệ của QTGD và tự giáo dục, vai trò của cá nhân trong quá trình nhận thức, tự hoàn thiện.
Hệ thông PPGD của Makarenco bao gồm các phương pháp: >» PPGD bang tác động song song Tác động song song là phương pháp nhà giáo dục sử dụng sức mạnh của dư luận tập thê nhằm điều chỉnh suy nghĩ, hành động của cá nhân hoặc một nhóm theo yêu cau giáo dục. Makerenco cho rằng chỉ có tác động song song mới phát huy được hết ý thức trách nhiệm, tỉnh thân tự giác của mỗi HS trong quá trình tự giáo dục, mới biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. >_ PPGD bảng hệ thống viễn cảnh PPGD bang hệ thông viễn cảnh là dựa trên yêu cầu cua QTGD, căn cứ vào nhu cầu của tập thể và cá nhân, xuất phát từ đặc điểm của tập thé đối tượng, nhà giáo dục giúp cho tập thể xây dựng một hệ thông mục tiêu, một chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, hoạt động tô chức thực hiện để đạt đến những dự định đã vạch ra. Điều chủ yếu là nhà sư phạm phải biến dự kiến cá nhân hình thành mong muốn thành phong trào của tập thẻ cơ sở dé mỗi thành viên thực hiện một cách tự giác dưới sự điều kiến của đội ngũ tự quản.
Có như vậy, hệ thông viễn cảnh mới trở thành phương pháp giáo dục. > PPGD băng tác động bùng nô Đây là phương pháp mà nhà giáo dục dùng những tác động mạnh. đặc biệt, bat than tạo ra những chuyên biến vẻ mặt tâm lý, điều chính quá trình hưng phan và ức ché dé phát vờ những suy nghĩ, hành vi, thói quen xau, tạo ra những suy nghĩ. những tinh cảm hành vi mới theo yêu cau giáo dục.
Ngoài ra, trong hệ thông PPGD cua Makarenco còn có một số các phương pháp khác: Giáo dục bằng truyền thống, giáo dục bằng cái đẹp và nghệ thuật, giáo dục bang che độ sinh hoạt, khen thưởng, trách phạt, giáo dục bằng nêu gương.