CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm Để xác định giá cả của công nghệ sản xuất công nghiệp một cách chính xác, khoa học và phù hợp với thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản có liên quan, phân tích những đặc điểm và nhận dạng công nghệ. Sau đây là một số khái niệm: - Công nghệ (Technology) là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm (Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000). - Công nghệ sản xuất công nghiệp (Industrial Production Technology) là công nghệ tạo ra sản phẩm thuộc ngành (lĩnh vực) sản xuất công nghiệp.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả đề cập đến những ngành (lĩnh vực) sản xuất công nghiệp sau đây: Thép; Cơ khí; Hoá chất; Thiết bị điện; Điện tử - Tin học; Công nghệ thông tin và truyền thông; Xi măng; Gốm sứ xây dựng và vật liệu xây dựng; Xây dựng cầu, đường; Cao su; Sản xuất các sản phẩm y tế; Công nghiệp chế biến thực phẩm; Công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, gia súc. - Chuyển giao công nghệ (Technology transfer) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ (Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006). - Định giá công nghệ (Technology pricing) là hoạt động xác định giá của công nghệ (Luật Chuyển giao công nghệ). Việc định giá chính xác công nghệ chuyển giao giúp bên bán và bên mua công nghệ có cơ sở để đưa ra được các mức phí kỳ vụ (royalty – mức phí của hợp đồng chuyển giao được trả cho bên chuyển giao công nghệ tính theo một giá trị phần trăm nhất định trên mỗi sản phẩm bán ra) phù hợp, thuận lợi cho việc đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ thành công.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tài sản vô hình (Intangible assets) là những tài sản thể hiện ra bằng những lợi ích kinh tế, chúng không có cấu tạo vật chất, mà tạo ra những quyền và những ưu thế đối với người sở hữu, và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu chúng. Tài sản vô hình có thể được phân loại theo những tiêu thức: các quyền, các mối quan hệ, các nhóm tài sản vô hình, tài sản sở hữu trí tuệ. - Tài sản sở hữu trí tuệ (Intellectual Property Assets) là loại tài sản vô hình đặc biệt được luật pháp bảo vệ khỏi sự sử dụng trái phép của người khác. - Quyền sở hữu công nghiệp (Industrial Property Rights) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Tuy nhiên, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động chuyển giao công nghệ (theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ) bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa. - Sáng chế (Patent) là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Một giải pháp dưới dạng sáng chế được bảo hộ theo kiểu độc quyền được gọi là patent. Patent là văn bằng bảo hộ sáng chế theo kiểu độc quyền và người chủ văn bằng được gọi là chủ patent hay chủ giải pháp.
- Kiểu dáng công nghiệp (Industrial Design) là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. - Nhãn hiệu hàng hóa (Trademark) là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. - Licence (Li-xăng) là sự cho phép hoặc giấy phép đặc quyền sử dụng một đối tượng nào đó. Trong chuyển giao công nghệ, licence là quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao và ký hợp đồng licence là sự thỏa thuận về quyền sử dụng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một đối tượng sở hữu đã được bảo hộ hoặc quyền sử dụng một bí quyết, một bí mật sản xuất một sản phẩm nào đó.
- Giá hoặc giá cả (Price) là một thuật ngữ được dùng để chỉ một số tiền được yêu cầu, được đưa ra hoặc được trả cho một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định. Giá bán trên thực tế có thể được công bố rộng rãi trước công chúng hoặc có thể được giữ bí mật. Tuỳ thuộc vào khả năng tài chính, động thái hoặc sự quan tâm của người mua hoặc người bán, mức giá trả cho hàng hóa hoặc dịch vụ đó có thể có liên quan hoặc không liên quan đến giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ đó. Tuy nhiên nhìn chung giá cả thể hiện giá trị tương đối căn cứ vào hàng hóa hoặc dịch vụ do người mua hoặc người bán quan tâm trong từng trường hợp nhất định.
- Giá trị (Value) là một khái niệm kinh tế có liên quan đến giá cả, chủ yếu do người mua và người bán hàng hóa hoặc dịch vụ (luôn sẵn có) xác định. Giá trị không có trên thực tế mà là mức giá dự tính sẽ phải trả đối với hàng hóa hoặc dịch vụ tại một thời điểm nhất định theo đúng với định nghĩa về giá trị. Khái niệm kinh tế về giá trị phản ánh tình hình thị trường lợi nhuận của người chủ sở hữu hàng hóa hoặc là người được hưởng dịch vụ vào thời điểm thẩm định giá. - Chi phí (Cost) là mức giá được trả cho hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc là một số tiền cần có để tạo ra hoặc sản xuất ra hàng hóa hoặc dịch vụ.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ đó được hoàn tất thì chi phí của hàng hóa hoặc dịch vụ đó được gọi là giá gốc. Mức giá được trả cho hàng hóa hoặc dịch vụ đó trở thành chi phí đối với người mua. - Thị trường (Market) là một môi trường trong đó sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa người mua và người bán được thực hiện thông qua cơ chế giá. Mỗi bên đều rất nhạy cảm trước quan hệ cung cầu và yếu tố khác ảnh hưởng đến việc định giá cũng như khả năng, kiến thức và sự nắm bắt về tính hữu dụng của hàng hóa hoặc dịch vụ của mỗi bên, vào nhu cầu và ước muốn của mỗi cá nhân.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giá thị trường (Market Price) là tổng số tiền trao đổi ước tính về tài sản giữa một bên là người bán, sẵn sàng bán tài sản với một bên là người mua, sẵn sàng mua tài sản, vào thời điểm thẩm định giá, sau quá trình tiếp thị công khai mà tại đó bên bán và bên mua đều hành động một cách tự nguyện, thiện chí và hiểu biết lẫn nhau, trên thị trường trao đổi một cách khách quan và độc lập. - Giá bán tịnh (Net Selling Price) là giá được xác định bằng giá bán sản phẩm, dịch vụ được tạo ra bằng công nghệ được chuyển giao (tính theo hoá đơn bán hàng) trừ đi các khoản sau: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu (nếu có); Chi phí mua các bán thành phẩm, bộ phận, chi tiết, linh kiện được nhập khẩu hoặc mua ở trong nước; Chi phí mua bao bì, chi phí đóng gói, chi phí vận tải sản phẩm đến nơi tiêu thụ, chi phí quảng cáo. - Doanh thu thuần (Net Turnover) là tổng số tiền được xác định bằng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được tạo ra bằng công nghệ được chuyển giao, trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. - Lợi nhuận trước thuế (Profit before tax) được xác định bằng doanh thu thuần trừ đi tổng chi phí hợp lý để sản xuất sản phẩm có áp dụng công nghệ chuyển giao đã bán trên thị trường.
- Lợi nhuận ròng (lãi ròng) (Profit-margin) là tổng thu nhập của một doanh nghiệp, hay còn gọi là lợi nhuận. Thu nhập ròng được tính toán từ tổng thu nhập có điều chỉnh thêm các khoản chi phí hoạt động, khấu hao, lãi suất, thuế và các chi phí khác liên quan đến họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Số liệu này được thể hiện trên báo cáo thu nhập, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, đó là số liệu tính toán nằm ở dòng cuối cùng nên còn được gọi bằng tên tiếng Anh là "the bottom line". Theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam, thu nhập ròng (lãi ròng) được tính theo công thức sau: Thu nhập ròng = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán - Chi phí bán hàng - Chi phí quản lý doanh nghiệp + Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính + Các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoản thu nhập bất thường - Các khoản chi phí bất thường - Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
- Phí kỳ vụ (Royalty) là tiền được thanh toán cho giá công nghệ của bên nhận trả cho bên giao theo kỳ hạn xác định trước, trong một khoảng thời gian nhất định. Cụ thể theo các phương thức sau: + Trả kỳ vụ theo phần trăm (%) giá bán tịnh; + Trả theo phần trăm (%) doanh thu thuần; + Trả theo phần trăm (%) lợi nhuận trước thuế của bên nhận; + Hoặc kết hợp các phương thức nêu trên. - Trả gọn (Lump Sum Price) là phương thức thanh toán giá công nghệ của bên nhận trả cho bên giao một khoản tiền hoặc một lượng hàng hoá nhất định, được chia ra để trả gọn một lần hay một số lần vào các thời điểm kết thúc từng giai đoạn của quá trình chuyển giao công nghệ trong thời hạn hợp đồng. Thị trường công nghệ - Yếu tố thúc đẩy chuyển giao công nghệ 1.
Công nghệ và một số thuộc tính Để hiểu sâu hơn về công nghệ, chúng ta cần hiểu rõ về bản chất và thuộc tính của công nghệ theo nhiều góc độ nghiên cứu. Sau đây là một số định nghĩa về công nghệ1: a) Theo F. Root: Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới.Jones, 1970: Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa.Baranson, 1976: Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc /và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện, sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.