Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại thúc đẩy sự bùng nổ thông tin, khiến khối lượng tri thức nhân loại gia tăng theo cấp số nhân trong khi quỹ thời gian học tập của mỗi cá nhân là hữu hạn. Trong bối cảnh đó, ngành giáo dục đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học. Bản chất của định hướng này là chuyển từ lối dạy học truyền thụ, nhồi nhét sang khơi dậy năng lực tìm tòi độc lập, sáng tạo, giúp học sinh nắm vững khái niệm khoa học và hình thành phương pháp tự học. Mặc dù đóng vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục và khả năng học tập suốt đời, công tác rèn luyện năng lực tự học cho học sinh phổ thông trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía nhà trường và giáo viên. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Ngô Văn Tới đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Phương pháp dạy học phức hợp nhằm nâng cao khả năng tự học của học sinh".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và đề xuất các biện pháp nâng cao khả năng tự học cho học sinh, bước đầu hình thành phương pháp tự học môn Hóa học có hiệu quả, qua đó nâng cao kết quả học tập và phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trung học phổ thông.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài dạy học phức hợp và vấn đề tự học.
- Khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo ở trường trung học phổ thông.
- Tìm hiểu một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng tự học của học sinh.
- Đề xuất một số giải pháp dạy học hợp lý để nâng cao hiệu quả tự học môn Hóa học của học sinh.
- Áp dụng các giải pháp đã đề xuất vào đợt thực tập sư phạm.
Khách thể nghiên cứu được xác định là hoạt động dạy và học môn Hóa học của giáo viên và học sinh ở trường trung học phổ thông. Đối tượng nghiên cứu là phương pháp dạy học môn Hóa học, hoạt động tự học của học sinh và các biện pháp nâng cao khả năng tự học cho học sinh do giáo viên trung học phổ thông thực hiện.
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài được triển khai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2009 - 2010. Phạm vi khảo sát thực trạng được thực hiện tại Trường Trung học phổ thông Trần Phú và Trường Trung học phổ thông Dân lập/Tư thục Trương Vĩnh Ký. Phạm vi thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Công Trứ, tập trung vào 4 lớp khối 10 gồm 10A8, 10A9, 10A10 và 10A11.
Giả thiết khoa học của khóa luận khẳng định: Hiện nay giáo viên và học sinh phổ thông chưa quan tâm nhiều đến phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo. Nếu xây dựng và vận dụng được các phương pháp dạy học hợp lý, giáo viên sẽ điều khiển hiệu quả quá trình tự học, giúp học sinh chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức nhanh chóng và đạt kết quả học tập cao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm giáo dục học và lý luận dạy học bộ môn Hóa học. Về mặt thuật ngữ, tác giả phân tích khái niệm "phương pháp" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos), được tiếp cận theo lý thuyết hoạt động (cách thức chủ thể tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích) và lý thuyết hệ thống (hoạt động gồm ba thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp). Cấu trúc của phương pháp bao gồm: mục đích, hệ thống hành động, phương tiện (vật chất và trí tuệ), chủ thể, quá trình biến đổi đối tượng và kết quả đạt được. Phương pháp dạy học gồm mặt bên ngoài (thao tác hành động của thầy và trò) và mặt bên trong (cách tổ chức hoạt động nhận thức của trò).
Khái niệm "Phương pháp dạy học phức hợp" được tác giả định nghĩa là phương pháp có cấu trúc phức hợp tạo thành từ một tập hợp các phương pháp và phương tiện dạy học, trong đó có một phương pháp giữ vai trò trung tâm liên kết các yếu tố còn lại thành hệ thống nhất, tạo ra hiệu ứng tích hợp và cộng hưởng nhằm nâng cao chất lượng lĩnh hội. Phương pháp dạy học phức hợp có ba đặc điểm cơ bản: tính khái quát cao, tính ổn định cao, và đảm bảo đồng thời hai chức năng là phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò. Trong khóa luận này, phương pháp phức hợp được thiết lập từ sự kết hợp của ba phương pháp: phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, phương pháp sử dụng bài tập hóa học và phương pháp hoạt động nhóm nhỏ.
Khái niệm "tự học" được trích dẫn theo Từ điển Giáo dục học (Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2001) và Đại từ điển tiếng Việt (1998), xác định tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục. Tác giả phân loại tự học thành ba kiểu: tự học không có hướng dẫn, tự học có hướng dẫn từ xa và tự học có hướng dẫn trực tiếp. Về mặt pháp lý của học liệu, khóa luận dẫn chiếu Điều 25 Luật Giáo dục quy định sách giáo khoa được sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy và học tập tại nhà trường.
Mô hình dạy học tích cực trong văn bản được luận giải thông qua mối liên hệ biện chứng giữa chu trình tự học 3 thời của trò và chu trình dạy 3 thời điểm của thầy:
- Chu trình tự học của trò: Thời 1 (Tự nghiên cứu: tạo sản phẩm thô mang tính cá nhân) $\rightarrow$ Thời 2 (Tự thể hiện: đối thoại, hợp tác tạo sản phẩm xã hội của tập thể lớp) $\rightarrow$ Thời 3 (Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: hoàn thiện sản phẩm khoa học).
- Chu trình dạy của thầy: Thời điểm 1 (Hướng dẫn: giao tình huống, nhiệm vụ) $\rightarrow$ Thời điểm 2 (Tổ chức: điều phối hoạt động tranh luận, hợp tác nhóm) $\rightarrow$ Thời điểm 3 (Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra: xác nhận tri thức khoa học).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả kết hợp gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu sư phạm và hóa học.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu: thiết kế phiếu câu hỏi để thu thập dữ liệu về thực trạng sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và thói quen tự học của học sinh trung học phổ thông.
- Phương pháp toán thống kê: xử lý các số liệu thu được từ phiếu điều tra và điểm số kiểm tra thực nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành giảng dạy trực tiếp đối chứng giữa các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại trường phổ thông.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các văn bản quy phạm, từ điển chuyên ngành, sách giáo khoa Hóa học phổ thông, tài liệu phương pháp giảng dạy, kết quả trả lời phiếu điều tra của học sinh tại hai trường THPT Trần Phú, Trương Vĩnh Ký và bảng điểm thực nghiệm tại trường THPT Nguyễn Công Trứ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận về các phương pháp dạy học
Chương I tập trung hệ thống hóa toàn diện lý luận về phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học môn Hóa học nói riêng. Tác giả chỉ ra 4 cơ sở phân loại phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông: (1) Mục đích lý luận dạy học của quá trình dạy học (tương ứng 3 khâu: nghiên cứu tài liệu mới; củng cố, hoàn thiện, vận dụng; kiểm tra, đánh giá, uốn nắn); (2) Nguồn cung cấp kiến thức (nhóm trực quan, nhóm thực hành, nhóm dùng lời); (3) Việc làm cụ thể của giáo viên và học sinh; (4) Cách thức tổ chức logic nhận thức bên trong của học sinh (kiểu thông báo - tái hiện mang tính minh họa hoặc kiểu nêu vấn đề - tìm tòi phát hiện mang tính nghiên cứu).
Nội dung chương đi sâu phân tích bản chất, cấu trúc và yêu cầu sư phạm của các phương pháp dạy học hóa học truyền thống và hiện đại:
- Phương pháp thuyết trình: gồm giảng thuật, giảng giải, diễn giải. Cấu trúc logic trải qua 4 bước: đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, giải quyết vấn đề (theo logic quy nạp phân tích từng phần, quy nạp phát triển móc xích, quy nạp so sánh - đối chiếu hoặc logic diễn dịch), và kết luận. Tác giả nhấn mạnh yêu cầu nghệ thuật ngôn ngữ của giáo viên và đánh giá ưu thế truyền đạt lượng thông tin lớn nhưng hạn chế về tính thụ động của học sinh.
- Phương pháp đàm thoại phát hiện (vấn đáp ơrixtic): hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tự tìm tòi chân lý. Văn bản chỉ ra các thiếu sót thường gặp như chia câu hỏi quá vụn vặt làm mất tính liên kết hoặc câu hỏi quá mơ hồ, mách nước.
- Phương pháp trực quan: phân loại thí nghiệm biểu diễn của giáo viên và các dạng thí nghiệm của học sinh (đồng loạt, thực hành, ngoại khóa, ở nhà). Tác giả khái quát 4 cách phối hợp giữa lời giảng và biểu diễn thí nghiệm.
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề: xác định 3 yếu tố của tình huống có vấn đề (có mâu thuẫn nhận thức, gây nhu cầu muốn biết, phù hợp khả năng học sinh); 3 cách xây dựng tình huống có vấn đề; các bước giải quyết vấn đề và 4 mức độ áp dụng từ thuyết trình nêu vấn đề đến học sinh tự lực nghiên cứu.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá: thực hiện 3 chức năng thống nhất (đánh giá, phát hiện lệch lạc, điều chỉnh kế hoạch); phân tích chi tiết quy trình kiểm tra nói, bài kiểm tra viết 1 tiết và bài kiểm tra viết 10 - 15 phút.
Bên cạnh đó, chương I phân tích sâu lý luận về tự học: phân tích các vai trò sống còn của tự học đối với học sinh phổ thông trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin; chỉ ra 8 phương châm tự học (học cách tư duy, học nhóm, chọn lọc, sắp xếp, chủ động say mê, độc lập không ỷ lại, tránh định kiến, lập kế hoạch); và cảnh báo 6 trở ngại tâm lý - thực tiễn (thiếu lòng tin, bệnh tự ti, bệnh lười biếng ngại học, tâm lý dễ thỏa mãn, tư tưởng sốt ruột muốn có kết quả ngay, khó khăn về sắp xếp thời gian). Cuối chương, mối quan hệ dạy - tự học được sơ đồ hóa thành sự chuyển dịch bản chất của khách thể nhận thức qua 3 thời điểm: từ khách thể cá nhân mang tính chủ quan sang khách thể xã hội lớp học và đạt đến khách thể khoa học khách quan.
Chương II: Các phương pháp dạy học nhằm nâng cao khả năng tự học của học sinh
Chương II cụ thể hóa ba phương pháp thành phần cấu thành phương pháp dạy học phức hợp:
-
Phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: Tác giả xác định sách giáo khoa là tài liệu chuẩn mực mang tính pháp lý (Điều 25 Luật Giáo dục), còn tài liệu tham khảo gồm sách bài tập, tạp chí chuyên ngành, đĩa CD và mạng Internet. Tác giả nêu rõ 5 hoạt động tự lực mà giáo viên cần bồi dưỡng cho học sinh khi làm việc với sách: tìm thông tin, tiếp nhận thông tin, định hình thông tin, chế biến thông tin và vận dụng thông tin. Văn bản lưu ý sách giáo khoa phát huy hiệu quả cao đối với các nội dung mang tính mô tả, sự kiện, thực tế, nhưng kém hiệu quả hơn phương pháp trần thuật khi giảng dạy các định luật trừu tượng. Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh các kỹ năng tự học ở nhà gồm: tìm sách (thư viện, Internet), kỹ năng đọc (đọc lướt tìm ý chính, đọc kỹ nắm luận điểm, đọc nhanh tiết kiệm thời gian), kỹ năng ghi chép (dàn ý, đề cương, trích dẫn, tóm tắt) và kỹ năng báo cáo.
-
Phương pháp sử dụng bài tập hóa học: Tác giả khẳng định bài tập hóa học là phương tiện quan trọng giúp học sinh hiểu sâu bản chất khái niệm, rèn luyện ngôn ngữ hóa học, phát triển thao tác tư duy và tự đánh giá lỗ hổng kiến thức. Hệ thống bài tập được phân loại thành:
- Bài tập định tính: gồm bài tập lý thuyết (viết phương trình phản ứng, chuỗi biến hóa, nhận biết, tách chất, điều chế, sửa chữa sai sót) và bài tập thực nghiệm (quan sát giải thích hiện tượng, dự đoán tính chất làm thí nghiệm kiểm chứng, bài tập hình vẽ mô tả dụng cụ hóa chất).
- Bài tập định lượng: gồm bài toán hóa học (kết hợp kiến thức hóa học và kỹ năng toán học, chia thành 7 dạng cơ bản: tính theo lượng chất tham gia/sản phẩm, chất dư, hỗn hợp, chuỗi phản ứng liên tiếp, xác định nguyên tố, lập công thức phân tử/cấu tạo) và bài tập thực nghiệm định lượng.
- Bài tập tổng hợp: phối hợp đa dạng kiến thức lý thuyết, thực hành, toán học và các môn liên quan.
Văn bản quy định 5 điều kiện để học sinh giải tốt bài tập và 5 lưu ý sư phạm cho giáo viên khi chữa bài tập (chọn bài tiêu biểu, chữa mẫu bài bản, cho bài tương tự, tận dụng hình vẽ/sơ đồ và sử dụng phấn màu làm nổi bật trọng tâm).
- Phương pháp hoạt động nhóm: Văn bản trình bày khái niệm hoạt động nhóm nhỏ, phân tích vai trò tổ chức, cố vấn của giáo viên, quy trình điều hành hoạt động nhóm trên lớp và đánh giá các ưu thế phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác cũng như nhược điểm tiềm ẩn cần khắc phục.
Chương III: Khảo sát thực trạng tự học của học sinh ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn TP.HCM
Nội dung chương III trình bày quy trình và kết quả khảo sát thực trạng:
- Trình bày mục đích, đối tượng và phương pháp khảo sát thông qua bảng câu hỏi điều tra học sinh tại Trường THPT Trần Phú và Trường THPT Tư thục Trương Vĩnh Ký.
- Phân tích thực trạng học sinh sử dụng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo trong giờ học hóa học cũng như khi tự học tại nhà; đánh giá mức độ tiếp cận các nguồn học liệu bổ trợ và Internet.
- Nhận định nguyên nhân dẫn đến thực trạng học sinh còn lúng túng, thụ động, phụ thuộc vào bài giảng chép sẵn của giáo viên và thiếu kỹ năng đọc hiểu chuyên sâu.
- Đề xuất hệ thống biện pháp: Biện pháp chung (hình thành ở học sinh các yếu tố cơ bản của phương pháp học tập hóa học) và Biện pháp riêng (hướng dẫn quy trình đọc sách giáo khoa, quy trình giải và tự xây dựng bài tập hóa học, quy trình tương tác hợp tác nhóm nhỏ).
Chương IV: Thực nghiệm sư phạm
Chương IV mô tả toàn bộ quá trình kiểm nghiệm thực tế các đề xuất sư phạm:
- Kế hoạch và tiến trình tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Nguyễn Công Trứ (TP.HCM) trong năm học 2009 - 2010.
- Lựa chọn 4 lớp khối 10 gồm 10A8, 10A9, 10A10, 10A11 để phân chia thành nhóm thực nghiệm (áp dụng phương pháp dạy học phức hợp rèn luyện tự học) và nhóm đối chứng (học theo phương pháp truyền thống).
- Tiến hành các bài kiểm tra đánh giá định kỳ, thu thập dữ liệu điểm số, xử lý thống kê toán học nhằm so sánh mức độ nắm vững tri thức, tính tích cực học tập và khả năng tự lực giải quyết bài tập của học sinh giữa hai nhóm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hoàn thành việc xây dựng cơ sở lý luận và đề xuất quy trình thực hiện phương pháp dạy học phức hợp nhằm phát triển năng lực tự học môn Hóa học cho học sinh phổ thông. Hệ thống kết quả cụ thể bao gồm:
Thứ nhất, văn bản đã làm rõ và phân loại một cách khoa học 4 cách thức kết hợp giữa lời giảng của giáo viên và việc biểu diễn thí nghiệm trực quan trong dạy học hóa học, được tổng hợp tại bảng sau:
| Cách thức |
Trình tự hoạt động nhận thức của học sinh |
Vai trò của lời giảng giáo viên |
Mức độ nhận thức của học sinh |
Phạm vi áp dụng phù hợp |
| Cách 1 |
Quan sát thí nghiệm trực tiếp $\rightarrow$ Tự lực rút ra kết luận |
Hướng dẫn học sinh quan sát |
Tích cực, chủ động |
Đối tượng, hiện tượng đơn giản (màu sắc, trạng thái, hình dạng) |
| Cách 2 |
Quan sát $\rightarrow$ Tái hiện kiến thức cũ có liên quan $\rightarrow$ Biện luận giải thích mối liên hệ |
Hướng dẫn quan sát, gợi ý tái hiện kiến thức, hướng dẫn tự giải thích |
Tích cực, phát triển tư duy lý luận |
Hiện tượng phức tạp, bản chất không bộc lộ trực tiếp bên ngoài |
| Cách 3 |
Tiếp nhận kiến thức từ lời giáo viên $\rightarrow$ Quan sát thí nghiệm chứng minh |
Cung cấp nguồn thông tin chính yếu; thí nghiệm chỉ đóng vai trò minh họa |
Tái hiện, thụ động |
Nội dung đơn giản, thời gian hạn chế |
| Cách 4 |
Nghe giải thích bản chất, tiếp nhận kết luận $\rightarrow$ Quan sát thí nghiệm minh họa |
Giải thích bản chất hiện tượng và rút ra kết luận trước khi làm thí nghiệm |
Tái hiện, minh họa |
Nội dung phức tạp, học sinh chưa đủ năng lực tự suy luận |
Thứ hai, tác giả thiết lập quy trình 5 bước rèn luyện năng lực tự đọc sách giáo khoa và tài liệu cho học sinh, đồng thời phân loại chi tiết hệ thống bài tập hóa học thành 3 nhóm lớn (bài tập định tính lý thuyết/thực nghiệm, bài tập định lượng gồm 7 dạng toán hóa học cơ bản, bài tập tổng hợp), đưa ra chỉ dẫn kỹ thuật cụ thể cho giáo viên khi tổ chức chữa bài tập trên lớp.
Thứ ba, về mặt đóng góp, đề tài đã cụ thể hóa mô hình tương tác giữa chu trình dạy 3 thời điểm của thầy (Hướng dẫn $\rightarrow$ Tổ chức $\rightarrow$ Trọng tài/Kiểm tra) và chu trình tự học 3 thời của trò (Tự nghiên cứu $\rightarrow$ Tự thể hiện $\rightarrow$ Tự kiểm tra, điều chỉnh). Khóa luận đã chuyển hóa lý luận dạy học phức hợp thành các biện pháp sư phạm cụ thể, được kiểm chứng bước đầu qua đợt thực tập sư phạm tại các lớp 10 trường THPT Nguyễn Công Trứ, khẳng định tính khả thi của việc nâng cao khả năng tự học cho học sinh phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản ghi nhận đây là công trình khóa luận tốt nghiệp của sinh viên nên năng lực nghiên cứu bước đầu còn có những thiếu sót nhất định. Về phạm vi thực nghiệm, đề tài mới chỉ tiến hành khảo sát thực trạng tại 2 trường THPT (Trần Phú, Trương Vĩnh Ký) và triển khai thực nghiệm sư phạm trên phạm vi hẹp tại 4 lớp khối 10 của một trường duy nhất (THPT Nguyễn Công Trứ, TP.HCM) trong khuôn khổ thời gian giới hạn của một đợt thực tập tốt nghiệp năm học 2009 - 2010.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ các nội dung chưa được giải quyết đầy đủ trong văn bản, hướng mở rộng cần tập trung vào việc:
- Mở rộng quy mô điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm trên nhiều đối tượng học sinh thuộc các khối lớp 11, 12 và tại nhiều địa bàn trường học khác nhau.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu tiêu chí xác định các bài học/nội dung cụ thể trong toàn bộ chương trình Hóa học phổ thông phù hợp nhất cho học sinh tự nghiên cứu qua sách giáo khoa so với các phương pháp thuyết trình truyền thống.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Hóa học và học viên cao học ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học khi tìm hiểu về phương pháp dạy học phức hợp, thiết kế tình huống có vấn đề và kỹ năng tổ chức cho học sinh tự học.
- Giáo viên Hóa học tại các trường trung học phổ thông muốn tìm kiếm quy trình sư phạm cụ thể để đổi mới phương pháp giảng dạy, phối hợp hiệu quả giữa lời giảng với thí nghiệm hóa học và rèn luyện kỹ năng tự đọc sách, tự giải bài tập cho học sinh.
Những phần có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình bao gồm:
- Khung lý luận về chu trình tự học 3 thời điểm gắn với sự chuyển hóa tính chất khách thể nhận thức (từ khách thể cá nhân sang khách thể khoa học).
- Bảng tổng hợp và phân tích 4 cách phối hợp lời giảng với thí nghiệm trực quan trong môn Hóa học.
- Hệ thống phân loại chi tiết các dạng bài tập hóa học định tính, định lượng và chỉ dẫn sư phạm trong việc sử dụng bài tập nhằm kích thích tư duy độc lập của học sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Phương pháp dạy học phức hợp trong khóa luận được cấu thành từ những phương pháp cụ thể nào?
Trong khóa luận, tác giả xác định phương pháp dạy học phức hợp là sự phối hợp tích hợp của ba phương pháp chính: phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, phương pháp sử dụng bài tập hóa học, và phương pháp hoạt động nhóm nhỏ.
2. Chu trình tự học của học sinh và chu trình dạy của giáo viên diễn ra qua những giai đoạn nào?
Chu trình tự học của học sinh diễn ra qua 3 thời: (1) Tự nghiên cứu (tạo sản phẩm thô cá nhân), (2) Tự thể hiện (hợp tác, đối thoại trong tập thể lớp tạo sản phẩm xã hội), (3) Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (hoàn thiện sản phẩm khoa học). Tương ứng với đó, chu trình dạy của giáo viên trải qua 3 thời điểm: (1) Hướng dẫn, (2) Tổ chức, và (3) Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra.
3. Giáo viên cần bồi dưỡng cho học sinh những hoạt động tự lực nào khi làm việc với sách giáo khoa?
Theo văn bản, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh 5 hoạt động tự lực: tìm thông tin (qua mục lục), tiếp nhận thông tin (đọc đoạn văn, xem hình vẽ, tra cứu số liệu), định hình thông tin (chia ý, gạch chân ý quan trọng), chế biến thông tin theo mục đích, và vận dụng thông tin trong thảo luận, báo cáo.
4. Bài toán hóa học trong phần bài tập định lượng được tác giả phân chia thành những dạng cơ bản nào?
Văn bản phân loại bài toán hóa học thành 7 dạng cơ bản: (1) Cho lượng chất ban đầu, tính lượng sản phẩm; (2) Cho lượng chất ban đầu, tính lượng chất tác dụng hết; (3) Cho lượng sản phẩm, tính lượng chất ban đầu cần thiết; (4) Bài toán về hỗn hợp các chất; (5) Bài toán tính theo các phương trình phản ứng xảy ra liên tiếp; (6) Bài toán xác định nguyên tố hóa học; (7) Bài toán lập công thức phân tử, công thức cấu tạo hợp chất.
5. Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm của đề tài được tiến hành tại đâu và trên các lớp nào?
Thực nghiệm sư phạm của khóa luận được tiến hành tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Công Trứ (Thành phố Hồ Chí Minh) trên học sinh của 4 lớp 10 gồm 10A8, 10A9, 10A10 và 10A11 trong năm học 2009 - 2010.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Văn Tới đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp dạy học phức hợp và khẳng định vai trò trọng tâm của năng lực tự học đối với học sinh trung học phổ thông trong môn Hóa học. Công trình đã mô hình hóa thành công mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa chu trình dạy 3 thời điểm của giáo viên và chu trình tự học 3 thời của học sinh thông qua sự kết hợp giữa sách giáo khoa, bài tập hóa học và hoạt động nhóm. Dữ liệu khảo sát thực trạng và kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Nguyễn Công Trứ (TP.HCM) bước đầu chứng minh tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong việc nâng cao tính chủ động và chất lượng lĩnh hội tri thức của người học. Đây là công trình nghiên cứu chuyên ngành phương pháp giảng dạy có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác đào tạo sư phạm và hoạt động đổi mới giáo dục phổ thông.