Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương phương pháp dạy học dự án trong dạy học môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học. Chương 2: Quy trình vận dụng dạy học dự án trong dạy học môn Khoa học lớp 4 theo định hướng pháp triển năng lực học sinh tiểu học. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.
Phương pháp dạy học dự án 1. Khái niệm dự án và dạy học dự án * Khái niệm về “Dự án” Thuật ngữ “Dự án”, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch; trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra. Thuật ngữ “Dự án” trong tiếng Việt nghĩa là “tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến”. Khái niệm DA đã đi từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực Giáo dục -Đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các DA phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học.
Đầu thế kỷ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method) và coi đó là phương pháp dạy học (PPDH) quan trọng nhằm khắc phục những nhược điểm của PPDH truyền thống coi giáo viên là trung tâm để thực hiện quan điểm lấy HS làm trung tâm của quá trình dạy học. Ban đầu, phương pháp dự án (PPDA) chỉ được sử dụng nhiều trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật nhưng về sau phương pháp này đã được dùng trong hầu hết các môn học bao gồm cả các môn khoa học xã hội. * Khái niệm về “Dạy học dự án” Các nhà nghiên cứu đi trước đã đưa ra nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo DA. Có nhiều tác giả coi dạy học DA là một hình 9 thức dạy học bởi khi thực hiện một DA để thành công phải sử dụng nhiều PPDH khác nhau.
Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH, người ta cũng gọi là PPDA, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng và là một PPDH phức hợp. Theo Thomas, Mergendoller, Michaelson (Mỹ) thì “Dạy học dự án là một mô hình tổ chức học tập xung quanh dự án. Các dự án có nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hay vấn đề đầy thử thách, đòi hỏi học sinh phải thiết kế, giải quyết vấn đề, hoặc tiến hành các hoạt động điều tra; nó cung cấp cho học cơ hội để làm việc tương đối tự động trong một khoảng thời gian mở và kết quả cuối cùng là tạo ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình trước lớp học”. [18] Theo Chương trình dạy học của Intel Việt Nam: Dạy học dự án là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Nó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình. Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học tích cực trong đó giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả. [7] Từ các khái niệm trên, có thể hiểu “Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học. Trong đó dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của giáo viên, người học thực hiện một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn.
Nhiệm vụ học tập này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập bao gồm từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện; thông qua đó tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu, công bố được. Đặc điểm của dạy học dự án - Thứ nhất: Hướng HS vào việc giải quyết một nhiệm vụ mang tính liên môn, đa ngành, không chỉ bó buộc trong phạm vi một lĩnh vực khoa học cụ thể và không thấy ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học; chỉ tồn tại vấn đề cần 10 giải quyết. Để giải quyết được vấn đề ấy đòi hỏi HS phải có hiểu biết nhất định về một số lĩnh vực có thể là khoa học, toán học, địa lí hay văn học,.Khi chưa đủ kiến thức nền tảng để giải quyết vấn đề thì HS sẽ phải tự học, tự nghiên cứu hay thậm chí tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Đây chính là chìa khóa đem đến thành công cho mô hình dạy học này.
- Thứ hai: Dạy học theo DA thường mang tính xã hội và ý nghĩa giáo dục sâu sắc mà không đơn điệu, nhàm chán chỉ tính đến mục tiêu hình thành tri thức khoa học thuần túy cho HS. - Thứ ba: Một DA học tập tốt phải cho HS cơ hội để điều tra mang tính xây dựng, tức là thông qua các DA học tập, HS phải được hướng vào giải quyết một nhiệm vụ có tính thực tiễn cao và đối với HS tiểu học tốt nhất là các em được giải quyết, khắc phục một hiện trạng xấu đang tồn tại xung quanh hay ở địa phương mình đang sinh sống. Đặc trưng này của dạy học theo DA đảm bảo cho nguyên tắc học tập thông qua làm việc, thực hành, trải nghiệm (tính thực tiễn trong DHDA). - Thứ tư: Dạy học theo DA không bị quy định số tiết lên lớp như bài học truyền thống; nó có thể kéo dài trong một vài ngày, vài tuần, thậm chí cả tháng hay cả kì học.
Hình thức tổ chức, thực hiện DA cũng hết sức đa dạng, các em HS có thể thực hiện ở nhà, ở các không gian trong trường học (lớp học, vườn trường, thư viện,. Chính tính “mở” về thời gian và không gian thực hiện DA đã làm cho nó trở nên cơ động, linh hoạt, mềm dẻo, hiệu quả và có sức hút hơn nhiều so với lối dạy học truyền thống. - Thứ năm: Dạy học theo DA thường hướng vào một sản phẩm vật chất cụ thể. Nghĩa là các nhiệm vụ trong DA phải hướng HS vào việc tạo ra một sản phẩm có thể nhìn thấy, sờ thấy, tri nhận thấy.
Sản phẩm của một DA học tập đối với HS tiểu học đơn giản so với các cấp học khác. Nó có thể là một bài thuyết trình giới thiệu, thuyết minh cho một sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội mà các em đang quan tâm, nghiên cứu, hay cũng có thể sản phẩm vật chất như mô hình, tờ rơi, áp phích,. Sản phẩm của DA là nơi hội 11 tụ thành quả học tập của HS về vấn đề các em đã được tìm hiểu, nghiên cứu. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp dạy học dự án * Ưu điểm * Với học sinh: có được những lợi ích từ DHDA như: - Tạo cơ hội cho HS được vận dụng các kiến thức lý thuyết vào thực tiễn trong hoạt động học tập.
- Khơi dậy hứng thú, niềm say mê học và sáng tạo tập cho HS. - Phát huy tính tự lực, hợp tác và tính trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ. - Phát triển năng lực giải quyết các vấn đề mang tính phức hợp. - Phát triển NL hợp tác, kĩ năng làm việc nhóm, và kỹ năng giao tiếp.
- Phát triển NL tự đánh giá mình, đánh giá bạn và đánh giá quá trình học tập. - Nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin trong học tập và một số các kĩ năng mềm khác. - Thông qua quá trình thực hiện dạy học DA, HS được củng cố mối quan hệ (tình bạn) với nhau trong nhóm, với lớp và với giáo viên. * Với giáo viên cũng có được những lợi ích sau: - Có điều kiện được nâng cao các kĩ thuật đánh giá (quan sát, vấn đáp) của giáo viên (GV) cả về kiến thức và năng lực của HS (theo chiều rộng và theo chiều sâu).
Từ đó, việc đánh giá HS sẽ bao quát hơn, toàn diện hơn, có chiều sâu hơn so với các phương pháp dạy học khác: đánh giá vì việc học (đánh giá quá trình), trong việc học (đánh giá đồng đẳng) và về việc học của HS (đánh giá kết quả). - Thông qua quá trình HS thực hiện DA, GV có thể phát hiện ra tiềm năng của HS, đồng thời cũng gắn kết hơn với HS trong dạy học, từ đó GV thấy yêu nghề hơn. - Tăng cường việc tự học của GV về kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong dạy học. - GV luôn có ý thức tìm hiểu các nội dung kiến thức lí thuyết có thể gắn 12 kết với thực tiễn, từ đó bộ tư liệu dạy học của GV ngày càng phong phú, đa dạng, sâu sắc hơn.
* Hạn chế Tuy nhiên, DHDA cũng có những hạn chế và yêu cầu nhất định: - Không phải bất kì bài học nào trong chương trình cũng áp dụng được phương pháp DHDA. - DHDA là một hình thức dạy học bổ sung cho các PPDH truyền thống chứ không thay thế cho phương pháp thuyết trình và luyện tập; chính vì vậy nó không phù hợp với việc truyền thu các tri thức mang tính hệ thống, cũng như việc rèn luyện hệ thống các kĩ năng cơ bản cho HS. - Học theo DA đòi hỏi phải có thời gian để HS nghiên cứu tìm hiểu, đồng thời GV cũng phải sắp xếp thời gian để hướng dẫn và tổ chức các hoạt động học tập cho HS. Vì vậy DHDA đòi hỏi GV phải biết xác định cụ thể mục tiêu và giới hạn được phạm vi nội dung thực hiện DA.
Nhưng chính điều này lại làm hạn chế những ý tưởng, tính sáng tạo của HS và đây cũng là một trong những lí do giải thích vì sao GV tiểu học ít sử dụng PPDH này. - Nhiều DA học tập đòi hỏi phải có cơ sở vật chất và tài chính phù hợp, đặc biệt cần sự trợ giúp của công nghệ thông tin, các phầm mềm ứng dụng và mạng internet, các phương tiện kĩ thuật hiện đại (đa phương tiện).