Chương 1. LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THẾ GIỚI TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu PPDH theo DA ở nước ngoài Dạy học theo DA không phải là mới đối với nền giáo dục trên thế giới, nó bắt đầu từ thế kỷ XVI có nguồn gốc từ Châu Âu (ở Pháp, Ý).
Đến thế kỷ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lí luận cho PPDH này (Nguyễn Tuấn Vĩnh, 2018). Dewey (1997) cho rằng “học bằng làm” đã châm ngòi cho một công cuộc đổi mới giáo dục, thay đổi cách giáo dục truyền thống thụ động mà chuyển dạy học dựa vào cảm hứng học tập, thúc đẩy sự trải nghiệm, từ đó phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của người học. Đây là yếu tố thiết yếu của dạy học theo dự án.Kilpatrick (1918) đã cho ra đời ấn phẩm mang tên “The project method”, trong tác phẩm của mình tác giả đã cố gắng làm rõ khái niệm về “DA học tập” và chứng minh tầm quan trọng của PPDH theo DA. Khi nghiên cứu về PPDH theo DA thì không thể thiếu Lilian G.
Katz (1932) là một trong những tác giả tiêu biểu và có nhiều đóng góp trong quá trình nghiên cứu PPDH theo DA cho đối tượng trẻ mầm non. Với các tác phẩm như: Young investigators: The Project Approach in the early years (Lilian G. Katz & Judy Harris Helm, 2001), Engaging Children's Minds: The Project Approach (Lilian G.Chard là một trong những cộng tác viên với Kats trong một số công trình nghiên cứu và phát triển PPDH theo DA dành cho lứa tuổi mầm non. Helm và Chard còn tiếp tục các công trình nghiên cứu của mình với các đối tượng với các trẻ có nhu cầu đặc biệt và điều này chứng minh về sự “sức mạnh” của PPDH theo DA thông qua tác phẩm: The Power of Projects meeting contemporary challenges in early childhood classrooms - strategies and Luan van 7 solutions (Judy Harris Helm & Sallee Beneke, 2002).
Tiêu biểu cho các mô hình, PPDH hiện đại sử dụng dự án làm một phương tiện dạy học hiệu quả là PP giáo dục Reggio Emilia do Loris Malaguzzi đã xây dựng nên phần lý thuyết. Với lịch sử được hình thành từ vùng quê nghèo đổ nát sau chiến tranh của Ý, có thể nói PPDH dành cho “trẻ em nghèo”, PPDH của những bà mẹ không có điều kiện chăm sóc và giáo dục con cái. Phương pháp này giúp trẻ phát triển tự nhiên các mối quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên xung quanh của chúng là trung tâm của triết lý. PP giáo dục Reggio Emilia trong GDMN nhấn mạnh các DA hợp tác.
Những đứa trẻ sẽ cùng nhau thực hiện một điều mới mẻ gì đó và trình bày những gì chúng đã học cho cha mẹ, GV và cho nhau (Maryne Valentine, 2006). PPDH theo DA là mô hình dạy học rộng lớn được thực hiện ở nhiều mô hình khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài tập trung nghiên cứu và cách thức tiếp cận một phần đặc điểm và qui trình thực hiện theo Reggio Emilia vào một phần của chương trình giáo dục mầm non tại tỉnh thành phố Trà Vinh. Lịch sử nghiên cứu PPDH theo DA trong nước Trong những năm gần đầy, PPDH theo DA bắt đầu du nhập vào Việt Nam và các nhà sư phạm bắt đầu nghiên cứu cách thức áp dụng PPDH này tại một số trường từ cấp bậc mầm non đến sau cấp bậc sau đại học.
Tuy nhiên, PPDH này vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu, giáo dục đầu tư nghiên cứu thích đáng. Trong quyển “Lí luận dạy học hiện đại (Cơ sở đổi mới mục tiêu - nội dung và PPDH)” của tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, tác phẩm “Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” của tác giả Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) & Đỗ Hương Trà…Các tác giả nghiên cứu chung về các PPDH tích cực đang được áp dụng hiện nay trên thế giới và PPDH theo DA được giới thiệu là một trong những phương pháp giáo dục hiệu quả chứ không đi chuyên sâu vào PPDH theo DA dành cho trẻ mầm non. Theo tác giả Lưu Thị Thu Thủy đã có những nghiên cứu tổng quát về PPDH theo DA và tác giả cho rằng PPDH này đã xuất hiện khá lâu ở Mỹ và Luan van 8 cũng có thể nói đây là một PPDH “cũ người nhưng mới ta”. Tuy nhiên, việc áp dụng PPDH theo DA tại Việt Nam đặc biệt tại các tỉnh nhỏ vẫn chưa được nhiều GV biết đến và áp dụng thành công.
Với điều kiện tự nhiên đa dạng và phong phú như Việt Nam, GVMN có thể tổ chức các hoạt đông trãi nghiệm đó ngay tại trường học, các trang trại hoặc cánh đồng bên cạnh trường học mà không phải tốn kém các chi phí đi lại (Lưu Thị Thu Thủy, 2015). Tác giả Nguyễn Tuấn Vĩnh (2018) đã đưa ra khái niệm về PPDH theo DA và cũng có đánh giá rất cao về PPDH này. Và tác giả cho rằng việc ứng dụng PPDH này vào các trường mầm non sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển giáo dục đang cần đổi mới theo xu hướng chung xã hội hiện nay. Tuy nhiên tác giả chưa định hướng cụ thể cách tiếp cận PPDH này vào chương trình giáo dục.
Tại Hà Nội, trong luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Minh Hường (2017) với đề tài “đánh giá hiệu quả việc sử dụng hình thức dạy học theo DA tại trường Mầm non VSK” và kết quả nghiên cứu cho thấy PPDH theo DA giúp trẻ đạt kết quả tốt về tâm trí và các mục tiêu giáo dục theo chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo, về hình thức dạy học cũng đạt kết quả khả quan như: thu hút phần lớn sự hứng thú, tích cực và chủ động của trẻ. Đề tài trên cũng chưa nêu được những điều kiện và tiêu chí thực hiện hay hướng dẫn GVMN cách thức thực hiện PPDH theo DA tại Hà Nội hay tại các cơ sở giáo dục tại Việt Nam nói chung. Trong luận văn thạc sĩ của Tuyết Ly (2014) với đề tài “Thử nghiệm mô hình dạy học theo DA với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Cà Mau” tác giả có công trình nghiên cứu và thử nghiệm mô hình dạy học này theo Lilian G. Katz ở một số trường mầm non tại thành phố Cà Mau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trên 90% GV và trên 50% cán bộ quản lý chưa từng nghe đến PPDH này (Lý Tuyết Ly, 2014). Chứng tỏ PPDH theo DA vẫn còn rất mới lạ đối nhiều GVMN và trường mầm non hiện nay. Trong những năm gần đây thì PPDH này đã xuất hiện khá nhiều tại các trường mầm non như: Hệ thống trường mầm non Steame Garten Mầm Non Happy Time, trường Mầm non Chìa Khoá Vàng – Golden Key, Hệ thống Luan van 9 Trường Quốc tế Việt Úc (VAS), trường Quốc tế Anh Renaissance. Tuy có nhiều trường đã và đang áp dụng PPDH theo DA nhưng vì chúng ta vẫn có sự hướng dẫn cụ thể nên việc ứng dụng PPDH trên vẫn còn nhiều bất cập trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục, với câu hỏi “liệu các trường có thực hiện đúng PPDH theo dự hay chưa?” Điều khiến chúng ta cần quan tâm tiếp theo đó là các trường áp dụng PPDH theo DA chủ yếu là ở các trường mầm non tư thục và các thành phố lớn, còn ở những tỉnh nhỏ thì GV vẫn chưa nghe đến hoặc chưa từng áp dụng PPDH này, vì thế nên trong giáo dục hiện nay có sự khác biệt và chênh lệch rất lớn về chất lượng giáo dục (Đặng Hồng Phương, 2017) Bên cạnh đó cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về PPDH theo DA trong các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ ở các cấp bậc khác, chuyên ngành khác như: Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ngọc Trang, Lê Khoa… các tác giả chỉ nguyên cứu ở một số lĩnh vực có liên chuyên ngành giảng dạy như: Dạy hóa học ở trường Trung học Phổ thông, đào tạo công nghệ thông tin trình độ Cao đẳng, dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho trẻ Trung học Phổ thông… Từ lịch sử nghiên cứu vấn đề trên, PPDH theo DA vẫn chưa được áp dụng phổ biến mà chủ yếu chỉ được nghiên cứu ở mức độ cá nhân, tập thể nhỏ.
Song đó dấu hiệu đáng mừng vì PPDH theo DA được một số nhà giáo dục hiện nay đánh giá cao, thử nghiệm và áp dụng thành công. Hiện nay, các tài liệu có được chủ yếu được chuyển dịch từ các tài liệu nước ngoài do những tác giả có nhu cầu viết bài nghiên cứu dịch ra. Để có thể áp dụng được PPDH này một cách rộng rãi và phổ biến cần có nhiều tác giả và sự đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng nhằm đề ra qui trình thực hiện, tiêu chí đánh giá kết quả PPDH theo DA. Khái niệm công cụ 1.
Khái niệm về dạy học và PPDH 1. Khái niệm về dạy học Tác giả Trương Xuân Huệ (2014) “Dạy là hoạt động của GV không chỉ là hoạt động truyền thụ cho học sinh những nội dung đáp ứng được các mục tiêu đề ra mà còn hơn nữa là hoạt động giúp đỡ, chỉ đạo và hướng dẫn học sinh. Học, Luan van 10 theo nghĩa rộng nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động của con người, là sự lĩnh hội sức mạnh bản chất người đã được đối tượng hóa trong các sản phẩm của hoạt động con người”. Tác giả Phan Trọng Ngọ (2005) thì cho rằng “học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững trong nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó.
Dạy là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm mà xã hội đã sáng tạo và tích lũy được qua các thế hệ. Dạy và học là hai mặt không thể tách rời của phương thức tồn tại và phát triển của xã hội và cá nhân”. Theo tác giả Vũ Thị Ngân (2006) “Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm, được tổ chức trong trường mầm non bằng những phương pháp sư phạm đặc biệt, thông qua những tác động qua lại có chủ đích và được thay đổi một cách có trình tự giữa GV và trẻ em, nhằm trang bị cho trẻ hệ thống kiến thức mang tính khoa học và hình thành hệ thống kĩ năng áp dụng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống và hoạt động. Bản chất của quá trình dạy học cho trẻ mầm non là quá trình nhận thức của trẻ em trong điều kiện sư phạm”.