Đặt vấn đề Trong số các loài động vật được con người thuần hóa nuôi dưỡng thì chó có lịch sử gắn bó và được coi là người bạn trung thành đáng tin cậy nhất. Những năm gần đây, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển ngoài mục đích giữ nhà, chó còn sử dụng để giải trí, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, học tập, phục vụ cho công tác an ninh quốc phòng… Hiện nay, do nhu cầu và sở thích của con người số lượng và giống chó ở Việt Nam ngày càng đa dạng phong phú. Các đàn chó nuôi được nhập về Việt Nam từ nhiều nước trên thế giới phong phú về chủng loại và mang giá trị kinh tế khác nhau. Các dịch vụ liên quan đến vật nuôi cũng được phát triển theo như dịch vụ làm đẹp, thời trang, thức ăn, đồ dùng cho chó… và không thể thiếu được đó là các bệnh xá, phòng khám thú y, bệnh viện thú y.
Để đáp nhu cầu ngày càng cao của người dân, các bệnh viện, phòng khám, bệnh xá thú y được trang bị máy móc, trang thiệt bị ngày càng hiện đại, đội ngũ bác sỹ ngày càng đông và trình độ ngày càng cao. Tuy vậy các bệnh trên chó vẫn phổ biến và ngày càng có những diễn biến phức tạp. Bệnh xá thú y chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Tuyên Quang được thành lập năm 2017 chính thức đi vào hoạt động khám chữa cho động vật trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh lân cận, mặc dù mới đi vào hoạt động nhưng bệnh xá thú y tỉnh Tuyên Quang đã được chủ các thú cưng biết đến và đưa thú cưng vào chăm sóc, khám chữa bệnh tại đây ngày một nhiều. Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý của BCN khoa, giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề “Phương pháp chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở chó đến khám chữa tại bệnh xá thú y Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Tuyên Quang”.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Xác định tình hình nhiễm các bệnh trên chó đến khám tại bệnh xá thú y tỉnh Tuyên Quang. - Thực hành phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh cho chó đến khám chữa tại bệnh xá. Yêu cầu của chuyên đề - Thành thạo phương pháp chẩn đoán và phác đồ điều trị bệnh cho chó.
- Xác định được tỷ lệ nhiễm các bệnh trên chó đến khám chữa tại bệnh xá h 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của cơ sở 2. Vị trí địa lý Bệnh xá thú y chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Tuyên Quang nằm trên địa bàn phường Tân Hà, thành phố Tuyên Quang, Ranh giới của bệnh xá được xác định như sau: - Phía đông giáp với phường Minh Xuân - Phía tây giáp xã Trung Môn, huyện Yên Sơn - Phía nam giáp phường Ỷ La - Phía bắc giáp sông Lô 2.
Tình hình khám và điều trị bệnh cho chó tại cơ sở Bệnh xá thú y tỉnh Tuyên Quang là một đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Tuyên Quang. Bệnh xá thực hiện nhiệm vụ tư vấn, khám chữa bệnh và các dịch vụ về CNTY cho gia súc gia cầm. Ngoài công tác chẩn đoán, phòng và điều trị, bệnh xá còn thực hiện các dịch vụ làm đẹp cho thú cưng như cắt tai thẩm mĩ cho các dòng chó như Doberman, pitbull,…, dịch vụ khám sức khỏe định kỳ, triệt sản,… Với đầy đủ các thiết bị để phục vụ các hoạt động về chăm sóc chẩn đoán bệnh cho thú cưng như máy siêu âm, máy khí dung, kính hiển vi, tủ lạnh, máy sấy, đèn mổ, dao điện và nhiều dụng cụ hỗ trợ khác. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Đặc điểm sinh lý của chó 2.1 Thân nhiệt Thân nhiệt là nhịêt độ của cơ thể gia súc. Được đo qua trực tràng. Ở trạng thái sinh lý bình thường, thân nhiệt của chó là 37,5 - 39,00C. Trong tình trạng bệnh lý thân nhiệt thay đổi tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ bệnh.
h 4 Nhiệt độ của cơ thể chó bình thường cũng bị thay đổi bởi các yếu tố: Lứa tuổi (chó non có thân nhiệt cao hơn chó trưởng thành), tính biệt (con cái có nhiệt độ cao hơn con đực). Sự vận động cũng ảnh hưởng đến nhiệt độ của chó, khi vận động nhiều thân nhiệt của chó thường cao hơn bình thường. Thân nhiệt của chó vào lúc sáng sớm thường thấp hơn buổi chiều và chênh lệch từ 0,2 0C - 0,50C. * Ý nghĩa chẩn đoán: Thông qua việc kiểm tra nhiệt độ cơ thể gia súc, có thể xác định được con vật có bị sốt hay không.
Qua đó sơ bộ xác định được nguyên nhân gây bệnh, mức độ, tính chất và tiên lượng bệnh. Sự giảm nhiệt độ thường do mất máu, bị nhiễm lạnh do một số hoá chất tác dụng, do tổn thương phóng xạ, đặc biệt là do trúng độc… Sự tăng nhiệt độ gặp khi nhiệt độ môi trường quá cao, gặp trong bệnh cảm nóng, cảm nắng, các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus, bệnh kí sinh trùng… gây nên trạng thái sốt cao.2 Tần số hô hấp (số lần thở/ phút) Tần số hô hấp là số lần thở trong một phút. Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc, trạng thái dinh dưỡng, trạng thái làm việc, trạng thái sinh lý, thời tiết, khí hậu và tình trạng bệnh lý… Ở trạng thái sinh lý bình thường, chó con có tần số hô hấp từ 18 - 20 lần/phút. Chó trưởng thành: Giống chó to có tần số hô hấp từ 10 - 20 lần/phút, chó nhỏ có tần số hô hấp 20 - 30 lần/phút.
Tần số hô hấp còn phụ thuộc vào các yếu tố sau: Nhiệt độ bên ngoài môi trường: Khi thời tiết quá nóng nên chó phải thở nhanh để toả nhiệt, ở chó nhịp thở có thể lên đến tới 100 - 160 lần/phút. Thời gian trong ngày: Ban đêm và sáng sớm chó thở chậm hơn, buổi trưa và buổi chiều chó thở nhanh hơn. Tuổi: Con vật càng lớn thì tần số hô hấp càng thấp. Những con mang thai, sự sợ hãi cũng làm cho tần số hô hấp tăng lên.3 Tần số tim (lần/phút) Tim co bóp hoạt động liên tục trong suốt cuộc đời con vật theo một nhịp điệu nhất định gọi là một chu kỳ, khi tim co bóp gọi là tâm thu và khi tim giãn được gọi là tâm trương.
Tần số tim mạch được quy định bằng số lần tim co bóp trong một phút. Nhịp tim cũng thể hiện cường độ trao đổi chất, trạng thái sinh lý, bệnh lý của cơ thể cũng như của tim. Ở trạng thái sinh lý bình thường: Chó con: 200 - 220 lần/phút Chó trưởng thành: 70 - 120 lần/phút Chó già: 70 - 80 lần/phút * Ý nghĩa chẩn đoán: Tần số tim đập tăng khi gia súc bị các bệnh truyền nhiễm cấp tính, bệnh van tim, các trường hợp thiếu máu, hạ huyết áp, các nguyên nhân gây kích thích thần kinh, các bệnh làm tăng áp lực xoang bụng (trướng hơi, giãn dạ dày…). Tần số tim đập giảm khi gia súc mắc bệnh làm tăng áp lực sọ não, tăng hưng phấn thần kinh mê tẩu, hoặc trong trường hợp gia súc bị viêm thận cấp, huyết não tăng hoặc trúng độc.4 Tuổi thành thục sinh dục và chu kỳ lên giống Theo Trần Tiến Dũng và cs (2001) [9], tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào giống chó.
Giống chó nhỏ thường thành thục sớm hơn giống chó to. Theo Nguyễn Hữu Nam và cs (2016) [10], thời gian thành thục của chó là: Chó đực: 8 - 10 tháng tuổi, những lần phóng tinh đầu tiên của chó đực vào lúc khoảng 8 - 10 tháng. Tuy nhiên, việc thụ tinh của chó đực có hiệu quả bắt đầu từ 10 - 15 tháng. Chó cái: 9 -15 tháng tuổi tùy theo giống và cá thể, có khi lên đến 24 tháng.
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [11], chu kỳ lên giống ở chó cái thường xảy ra mỗi năm 2 lần, trung bình khoảng 6 - 8 tháng. Thời gian động dục từ 12 - 21 ngày, giai đoạn thích hợp phối giống là từ 9 - 13 ngày sau khi có biểu hiện động dục. Một số giống chó nuôi phổ biến ở Việt Nam 2.1 Các giống chó địa phương Nhóm chó ta hay chó nội địa được người dân thuần hóa và nuôi dưỡng cách đây 3.000 năm trước công nguyên. Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2011) [33], ở nước ta có tập quán nuôi chó thả rông vì thế sự phối giống một cách tự nhiên giữa các giống chó kết quả là tạo ra nhiều thế hệ con lai với đặc điểm ngoại hình rất đa dạng và nhiều tên gọi dựa vào màu sắc bộ lông và từng địa phương để gọi tên.
Giống chó vàng: chó vàng được người dân thuần hóa và nuôi dưỡng cách đây khoảng từ 3.000 năm trước công nguyên. Chúng có tầm vóc trung bình, con trưởng thành nặng khoảng 12-18kg, chiều cao 50-55cm, chó cái thường nhỏ hơn chó đực. Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [31], đây là giống chó nhanh nhẹn, hoạt bát, có sự thích ứng tốt với điều kiện bgoaij cảnh, ít bị ốm, dễ ăn uống và bơi lội giỏi, chó đực phối giống được ở 15-18 tháng tuổi, chó cái sinh sản được ở tuổi 12-14 tháng, mỗi lứa trung bình đẻ 5 con. Chó lào: Theo Lê Văn Thọ, (1997) [36], chó lào lông xồm, màu hung với hai vện trắng trên mí mắt, có tầm vóc lớn hơn chó H’Mông, cao 60-65cm, nặng 18-25kg.
Tuổi thành thục con đực từ16-18 tháng tuổi, con cái từ 13-15 tháng tuổi. Được nuôi nhiều ở vùng bắc và tây bắc nước ta, chó cái đẻ trung bình mỗi lứa 6 con. Chó Bắc Hà: Theo Hoàng Nghĩa (2005) [21] Giống chó Bắc Hà xuất hiện nhiều ở tỉnh Lào Cai, ít gặp ở các địa phương khác, chúng có bộ lông dài tương tự như giống chó H’mông lông dài nhưng phần mặt lại không có những đám lông dài. Chó đực có chiều cao 52-65cm, chó cái có chiều cao 52-60cm, nặng 25-35kg.
Chó Phú quốc: Theo Lê Văn Thọ (1997) [36], chúng có nguồn gốc từ đảo Phú Quốc- Việt Nam. Chó có hình thể khá lớn, cao 60-65cm, nặng 20- 25kg, là giống chó tinh khôn. Màu sắc lông môt màu có thể màu vàng, đen, h 7 vện, xán hoặc màu lá úa, đường lưng thẳng, trên lưng có một xoáy dày, chó Phú Quốc thông minh, nhanh nhẹn và có thể huấn luyện tốt, nhân dâ ta thường sử dụng làm chó đi săn, giữ nhà hoặc làm chó bảo vệ, chó cái đẻ mỗi lứa trung bình 5 con.