Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển ngành dịch vụ trong phát triển kinh tế địa phương” “Chương 2: Thực trạng phát triển ngành dịch vụ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2015” “Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển ngành dịch vụ tỉnh Nghệ An đến năm 2020” 6 CHƢƠNG 1 “CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƢƠNG” 1.“Tổng quan chung về ngành dịch vụ” 1. “Khái niệm, đặc điểm và phân loại ngành dịch vụ” 1. Khái niệm “Nếu như trước đây, nói đến một nền kinh tế người ta chỉ nói đến hai lĩnh vực then chốt là công nghiệp và nông nghiệp thì ngày nay dịch vụ đang ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau: từ kinh tế học đến luật học, văn hóa học, từ khoa học quản lý đến hành chính”học.“Vì vậy, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về dịch”vụ. Theo Phillip“Kotler- Cha đẻ của Marketing hiện đại (Nguồn gốc của Marketing, European edition, năm 2005) thì”cho rằng: “ Dịch“vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì”đó.Sản“phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản”phẩm vật chất”.
“Có định nghĩa lại cho rằng dịch vụ là "những thứ vô hình" hay là "những thứ không mua bán”được”. Một“định nghĩa khác về dịch vụ là: dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở”hữu. Việc“thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với sản phẩm vật”chất. Thực tế, hiện“nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có khái niệm thống nhất về dịch”vụ.
Vì vậy, định“nghĩa mang tính khoa học và phản ánh đúng nhất bản chất của dịch vụ đó là: dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không 7 dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con”người. Tất“cả các nhà cung cấp ( sản xuất ) dịch vụ hợp lại thành khu vực dịch vụ hay ngành kinh tế thứ ba”của nền kinh tế. Do đó, trong“luận văn này, thuật ngữ ngành dịch vụ, lĩnh vực dịch vụ, khu vực dịch vụ và khu vực thứ ba được hiểu theo nghĩa tương đương”nhau. Đặc điểm của dịch vụ Một là,“tính vô hình hay phi vật chất” “Đối với sản phẩm vật chất sẽ có tính chất vật lý, hóa học nhất định, có tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể để đo lường và do đó có thể tiến hành sản xuất theo tiêu chuẩn”đó.
Nhưng“đối với sản phẩm dịch vụ do không tồn tại dưới dạng vật chất; không tồn tại dưới dạng những vật phẩm cụ thể; không thể cầm nắm; không thể nhìn thấy, do đó khó có thể xác định chất lượng dịch vụ 1 cách trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể mà chỉ có thể nhận thức được bằng giác quan hay tư”duy. Hai là,“tính không tách rời giữa việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ” “Trong nền kinh tế hàng hóa thì hoạt động sản xuất ra hàng hóa tách khỏi quá trình lưu thông và tiêu”dùng. Do đó, hàng hóa“có thể lưu kho để dự trữ, có thể được vận chuyển đi nơi khác theo nhu cầu của thị”trường. Nhưng “đối với sản xuất vật chất thì sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để cất trữ sau đó mới đem đi”tiêu thụ.
Mà“ở đây, người cung cấp dịch vụ và khách hàng tiêu dùng phải tiếp xúc với”nhau. Do đó, việc“cung cấp và tiêu dùng dịch vụ sẽ được tiến hành tại các địa điểm, thời gian phù”hợp cho các bên. Và“với một số dịch vụ đặc biệt cả khách hàng và người cung cấp phải có mặt trong suốt cả quá trình cung cấp dịch”vụ. Ba là,“tính không ổn định, khó xác định được chất lượng” “Do việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, nên không thể 8 cung cấp dịch vụ hàng loạt, đồng đều như sản xuất hàng”hoá.“Mặt khác, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc phần lớn vào người tạo ra chúng, vì những người sản xuất sản phẩm dịch vụ có trình độ, khả năng khác nhau; điều kiện môi trường, tâm lý, hoàn cảnh khác nhau nên dẫn tới chất lượng dịch vụ được cung cấp không giống”nhau.
Mặt khác, chất“lượng dịch vụ cung cấp phần lớn phụ thuộc vào cảm nhận, đánh giá chủ quan của khách hàng nên rất khó để xác định chất”lượng. Bốn là,“tính không dự trữ được” “Do việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất được dịch vụ đồng loạt và lưu trữ đến khi cần mới”tiêu dùng. Vì vậy, không “thể dự trữ, tồn kho đem bán khi thị trường có nhu”cầu. Năm là,“tính không chuyển được quyền sở hữu” Sau“khi đã mua một hàng hoá, quyền sở hữu được chuyển từ người bán sang khách hàng, khách hàng trở thành chủ sở hữu hàng hoá”họ đã mua.
Tuy nhiên,“khi mua dịch vụ thì quyền sở hữu vẫn thuộc về người bán, khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, họ được thụ hưởng những lợi ích mà dịch vụ mang”lại. “Sáu là, sự nhạy cảm của dịch vụ với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ” “Ðây là đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất của dịch vụ, đòi hỏi ngành dịch vụ phải được quan tâm đầu tư, không ngừng hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa các phương tiện dịch vụ, đồng thời nâng cao trình độ, rèn luyện ý thức, thái độ, tác phong của người làm dịch vụ và quan trọng hơn là không ngừng phát triển thêm những dịch vụ”mới. Phân loại ngành dịch vụ “Để phân loại dịch vụ, theo lý thuyết cũng như qua thực tế sẽ có các cách phân loại dịch vụ khác”nhau. Theo tính chất của dịch vụ “Dịch vụ mang tính thương mại: Là dịch vụ được thực hiện, được cung ứng nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi”nhuận.
Ví dụ: quảng cáo để bán hàng, dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân hàng. “Dịch vụ không mang tính thương mại: Là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không phải để thu lợi”nhuận. Loại“dịch vụ này gồm các loại dịch vụ công cộng thường do các tổ chức xã hội, các đoàn thể phi lợi nhuận cung ứng hoặc do các cơ quan nhà nước khi các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của”mình. Ví du:“dịch vụ giáo dục và đào tạo, dịch vụ y tế cộng đồng, dịch vụ hành chính”công.
“Cũng theo cách phân loại này thì ngành dịch vụ có thể được phân chia thành ba loại: dịch vụ kinh doanh có tính thị trường, dịch vụ sự nghiệp và dịch vụ quản lý hành chính”công. Trong đó: +“Dịch vụ kinh doanh có tính thị trường: Hình thức này chính là cách phân loại theo dịch vụ mang tính chất thương mại như đã nêu trên đây như vận tải, thương mại, du”lịch… +“Dịch vụ sự nghiệp: gồm các hoạt động cung cấp, tăng cường phúc lợi xã hội cần thiết cho người dân như giáo dục,y tế, văn”hoá … +“Dịch vụ hành chính công: là các loại dịch vụ gắn với chức năng quản lý của nhà nước để đáp ứng yêu cầu của người dân như quản lý nhà nước, quốc phòng, an”ninh. Theo mục tiêu của dịch vụ “Dịch vụ về hàng hoá: Là các dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất, trao đổi và buôn bán các sản phẩm trong nền”kinh tế. Các dịch vụ này còn được gọi là “dịch vụ trung gian”.
Bao gồm: Dịch vụ phân phối: vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi giới. 10 Dịch vụ sản xuất: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các dịch vụ về kỹ sư , kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán, dịch vụ kiểm toán, dịch vụ pháp lý. Dịch vụ về tiêu dùng:“Là những dịch vụ được tiêu dùng trực tiếp bởi các cá nhân, các tổ chức nhằm phục vụ các nhu cầu xã hội và thường không liên quan đến thương mại hàng hoá nhưng vẫn mang tính thương”mại. Các dịch vụ này còn được gọi “dịch vụ cuối cùng”.
Bao gồm: + Dịch“vụ xã hội: Dịch vụ y tế, sức khoẻ, giáo dục, dịch vụ bưu điện, viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn và các dịch vụ xã hội”khác. + Dịch“vụ cá nhân: Dịch vụ giải trí, dịch vụ nhà hàng, dịch vụ sửa chữa, dịch vụ nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch, văn”hoá… Dịch vụ công cộng c. Theo hệ thống phân ngành quốc dân của Việt Nam Theo hệ thống phân ngành của Việt Nam, các ngành kinh tế được phân chia dựa vào chức năng hoạt động chủ yếu của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Hệ thống ngành kinh tế quốc dân hiện hành được quy định tại quyết định số 10/2007QĐ – TTg ngày 23/01/2007 của thủ tướng Chính phủ.
Theo Nghị định này, hệ thống các ngành kinh tế được chia thành 21 ngành cấp I, trong số đó có 15 ngành dịch vụ. Trong mỗi ngành dịch vụ lại được chia thành các phân ngành khác nhau. Cụ thể như sau: ( 1) Bán buôn và bán lẻ; sữa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ ( 2 ) Vận tải kho bãi ( 3 ) Dịch vụ lưu trú và ăn uống ( 4 ) Thông tin và truyền thông ( 5 ) Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm ( 6 ) Hoạt động kinh doanh bất động sản ( 7 ) Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 11 ( 8 ) Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ ( 9 ) Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng; bảo đảm xã hội bắt buộc. ( 10 ) Giáo dục và đào tạo ( 11 ) Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ( 12 ) Nghệ thuật, vui chơi và giải trí ( 13 ) Hoạt động dịch vụ khác ( 14 ) Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình ( 15 ) Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế d.
Phân ngành dịch vụ theo WTO Việc phân ngành dịch vụ của WTO dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. Toàn bộ khu vực dịch vụ được chia thành 12 ngành và 155 phân ngành, trong các phân ngành có liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể có thể tham gia vào thương mại quốc tế.