Chương 1: Khái quát về huyện Đak Pơ và phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai (17 trang) Chương 2: Nội dung phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai (2007-2022) (45 trang) Chương 3: Nhận xét phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai (2007-2022) (30 trang) 9 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐAK PƠ VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN HUYỆN ĐAK PƠ, TỈNH GIA LAI TRƢỚC NĂM 2007 1. Những yếu tố tác động đến phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai 1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý, điều kiện giao thông: Huyện Đak Pơ nằm ở phía đông tỉnh Gia Lai, có tọa độ từ 108o25’00” đến 108o47’45” kinh Đông và từ 130o74’20” đến 140o3’15” vĩ Bắc. Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 50.
Phía đông giáp thị xã An Khê và tỉnh Bình Định; phía tây giáp huyện Mang Yang (được ngăn cách bởi dãy đèo Mang Yang); phía nam giáp huyện Kông Chro; phía bắc giáp huyện Kbang. Về giao thông, Đak Pơ có vị trí khá thuận lợi khi nằm ở giao điểm của quốc lộ 19 (theo hướng đông - tây) và đường Trường Sơn Đông (theo hướng bắc - nam). Theo quốc lộ 19, từ Đak Pơ có thể ngược về phía tây để đến thành phố Pleiku hoặc xuôi theo hướng đông để xuống thị xã An Khê, thành phố Quy Nhơn. Từ năm 2011, khi đường Trường Sơn Đông chạy qua địa bàn huyện được hoàn thiện đã mở ra cho Đak Pơ một hướng tiếp cận mới.
Theo tuyến đường này, Đak Pơ được nối với các huyện, thị phía đông của tỉnh Gia Lai và các tỉnh Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng; phía tây các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường Trường Sơn Đông cũng là một bộ phận quan trọng trong tuyến hành lang Bắc - Nam qua tỉnh Gia Lai. Từ trung tâm huyện đến các xã có các trục giao thông chính do Trung ương và tỉnh quản lý như: Quốc lộ 19, đường Trường Sơn Đông, đường tỉnh 667 với tổng chiều dài đi qua huyện trên 60 km, kết cấu đường cấp IV (mặt đường bê-tông nhựa). Đường trục xã có chiều dài 93,15 km, đã bêtông hóa, nhựa hóa, cấp phối cứng 71,28 km, đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải.
Đường trục thôn, làng, xóm có chiều dài 140,66 km, đã được bê-tông hóa, cấp phối cứng 26,05 km đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải. Với vị trí địa lí thuận lợi, mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của huyện. Đây cũng là một trong những cơ sở, điều kiện thuận lợi góp phần nâng cao chất lượng công tác đoàn và phong trào thanh niên ở địa phương. 10 Đặc điểm địa hình: Huyện Đak Pơ nằm ở sườn Đông dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông, với ba dạng chủ yếu, được phân thành ba tiểu vùng khá rõ rệt: Địa hình núi thấp trung bình: Phân bố ở phía đông - đông bắc huyện và chiếm 38,5% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện.
Đất đai chủ yếu của dạng địa hình này là đất mùn đỏ vàng, đất đỏ vàng. Ở dạng địa hình này có thể mở rộng diện tích đất nông nghiệp. Trong thung lũng, trên địa hình bằng thấp một số nơi đã bị khai phá làm nương rẫy, hình thành các thảm cỏ và cây bụi, cây rải rác xen các nương rẫy. Địa hình núi cao: Kéo dài từ phía tây bắc Đak Pơ (giáp huyện Mang Yang) tới phía nam huyện (giáp huyện Kông Chro).
Phía tây, dạng địa hình này theo thung lũng sông Ba từ vị trí giáp với vùng núi xã Ya Hội, tới hết ranh giới phía đông của huyện, giáp với vùng núi thấp tỉnh Bình Định. Dạng địa hình này có bề mặt bằng phẳng. Chân dốc dải đồi là các dòng suối đổ về sông Ba và Đak Hway. Địa hình trũng thấp: Phân bố ở hướng đông - đông nam của huyện.
Bề mặt bằng phẳng, chủ yếu là đất xám trên granít. Ven sông suối có đất phù sa, dốc tụ. Hiện nay, đây là vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của huyện, với các loại cây trồng chính là mía, hoa màu, lương thực [8, tr. Tài nguyên đất: Theo kết quả điều tra của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (miền Trung, trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000, kết quả điều tra bổ sung phục vụ chương trình đánh giá đất đai vùng Tây Nguyên giai đoạn 1997 – 1999), địa bàn huyện Đak Pơ có các loại đất như: Nhóm đất phù sa sông suối, thích hợp cho việc trồng lúa nước.
Nhóm đất xám, xám bạc màu, thích hợp trồng cây đậu đỗ và cây công nghiệp hằng năm (mía, bắp, lạc, đậu tương. Đất vàng đỏ trên đá granít và biến chất, thích hợp với trồng hoa màu, lương thực và cây ăn quả. Nhóm đất đen, là dấu tích còn lại của lớp bazan cổ, do quá trình xâm thực, bóc mòn của sông Ba tạo nên, tầng rất mỏng từ 30 - 50 cm, nhiều nơi trơ sỏi đá. Nhóm đất dốc tụ, giàu mùn, rất chua, thích hợp với cây lúa nước.
Hiện nay, môi trường đất của huyện Đak Pơ đã có dấu hiệu ô nhiễm do việc sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật và thuốc kích thích tăng trưởng cho cây trồng không hợp lý. Ngoài ra, việc canh tác thiếu hợp lý trên các vùng sinh thái đặc thù cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng thoái hóa, bạc màu và rửa trôi. Chất thải từ các hoạt động công nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt chưa được xử lý thích hợp cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất của huyện. Tài nguyên rừng: Đak Pơ là một huyện có tài nguyên rừng vào loại trung bình 11 của tỉnh, với tổng diện tích là 22.791 ha, chiếm 45,25% tổng diện tích tự nhiên.
Rừng Đak Pơ có các loại cây gỗ quý như: hương, trắc, cẩm lai. nhưng hiện nay đã cạn kiệt; các loài cây đặc sản cho giá trị kinh tế và dược liệu cao như: sa nhân, quế, vằng đắng, sâm đất. Khí hậu: Ở vị trí địa lý chuyển tiếp giữa vùng duyên hải với Tây Nguyên, khí hậu của vùng trũng Đak Pơ là khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng đồng thời của cả vùng khí hậu Tây Nguyên và duyên hải, với hai mùa mưa và khô. Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12, lượng mưa lớn (1.900 mm) với khoảng 120 - 160 ngày mưa, chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm.
Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 năm sau. Mức độ khô hạn ở Đak Pơ không gay gắt như cao nguyên Pleiku. Nhiệt độ trung bình tại huyện là 22 – 250C. Tổng lượng mưa trung bình năm của huyện từ 1.200 mm, phân bố không đồng đều giữa hai phía đông và tây.
Hướng gió thịnh hành ở Đak Pơ thay đổi theo mùa rõ rệt. Chế độ gió mang sắc thái của gió mùa khu vực Đông Nam Á. Về mùa đông, hướng gió chiếm ưu thế là hướng đông bắc với tần suất xấp xỉ 70%. Mùa hè, gió thịnh hành có hướng gần như đối lập với hướng gió mùa đông, trong đó hướng tây và tây nam chiếm ưu thế tuyệt đối, xấp xỉ 90% [8, tr.
Ngoài ra, hàng năm, Đak Pơ còn xảy ra một số hiện tượng thời tiết khác như sương giá. Hiện tượng này thường xuất hiện khoảng 4 - 5 ngày. Những năm lạnh nhất có đến 15 ngày sương giá, tập trung chủ yếu vào tháng 01 với tần suất khoảng 60% và tháng 12 với tần suất khoảng 30%. Mặc dù những ngày sương giá xảy ra không nhiều và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng đây là hiện tượng thời tiết có tác động xấu đến cây trồng.
Ở cách xa biển, lại có dãy Trường Sơn ngăn cản ở phía đông nên địa bàn của huyện không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các cơn bão mà chỉ bị ảnh hưởng do mưa lớn và gió mạnh. Sự đa dạng, phong phú của các dạng địa hình, đất đai và khí hậu đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế mang sắc thái riêng của từng khu vực địa hình. Đó cũng là cơ sở để đoàn viên thanh niên huyện Đak Pơ thực hiện tốt các phong trào cách mạng của Đoàn như Phong trào Tuổi trẻ sáng tạo (sáng tạo trong lao động, sản xuất, kinh doanh,…). Tuy nhiên, địa hình phức tạp, đất đai bị ô nhiễm, các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, đi lại, sinh hoạt của cư dân.
Đồng thời cũng ảnh hưởng đến công tác đoàn và phong trào thanh niên trên địa bàn huyện. Đặc điểm kinh tế Cư dân Đak Pơ sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Để có đất đai làm ruộng, làm rẫy trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, việc khai khẩn đất đai rất được nông dân coi trọng. Trước năm 1932, nông dân đến Đak Pơ nói riêng, An Khê và toàn vùng Kon Tum (bao gồm cả Gia Lai) khai khẩn đất đai hoàn toàn tự do.
Từ năm 1932, theo Chỉ dụ ngày 01/9 (năm Bảo Đại thứ 7), Chính phủ Nam Triều đề ra những quy định cụ thể về vấn đề khẩn hoang trên vùng cao nguyên. Theo Chỉ dụ này, cứ mỗi mẫu tây (1 ha) bằng 2 mẫu An Nam (mỗi mẫu An Nam bằng 5. Ai muốn khai khẩn 20 mẫu An Nam trở lại thì chỉ cần xin và được các quan bản tỉnh duyệt, còn trên 20 mẫu thì phải trình ra Bộ Hộ. Tính đến thập niên 1930, số đất đai mà nhân dân tổng Tân Phong (trong đó có một số làng ở Đak Pơ) khai khẩn được là 920,8 mẫu đất và 112,7 mẫu ruộng.53] Hiện nay, ở Đak Pơ, nông nghiệp vẫn giữ vai trò nền tảng.
Đảng bộ và chính quyền các cấp của huyện đã bám sát điều kiện thực tế và những lợi thế của địa phương để tiếp tục phát triển kinh tế-xã hội. Xác định nông nghiệp giữ vai trò nền tảng cho tăng trưởng kinh tế nên huyện Đak Pơ đã duy trì phát triển nông nghiệp với các loại cây trồng lợi thế như: mía, mì, bắp, dưa hấu… Huyện đã đầu tư cơ giới hóa, xây dựng các mô hình sản xuất hàng nông nghiệp theo hướng thương phẩm tập trung. Do ở vị trí cửa ngõ giữa đồng bằng Nam Trung Bộ lên các cao nguyên phía Tây, bên cạnh nghề nông, đồng bào người Kinh lên vùng Đak Pơ còn tiến hành buôn bán, trao đổi hàng hóa với đồng bào dân tộc thiểu số. Trong vùng cũng sớm hình thành những điểm buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa đồng bằng và cao nguyên tại nguồn sở Cầu Bông, dưới triều Nguyễn (năm Minh Mạng thứ 10, 1829) là Phương Kiệu.