Mở đầu nêu lên bối cảnh và lý do chọn đề tài, đối tượng, mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, đồng thời cũng nêu lên ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2 – 23 Tổng quan tài liệu trình bày các khái niệm có liên quan, tổng quan cơ sở lý thuyết, tổng quan về các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước. Chương 3 mô tả thiết kế nghiên cứu và quá trình thu thập, phân tích dữ liệu. Chương 4 trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5 trình bày các kết quả của đề tài bao gồm (1) kết quả từ quá trình nghiên cứu thực nghiệm và (2) sản phẩm khóa học tiếng Anh cộng đồng được phát triển từ việc thu thập nhận thức và thái độ của người học trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm. Chương 6 kết luận các nội dung chính của đề tài và đưa ra các kiến nghị cho đề tài nghiên cứu tiếp theo và kiến nghị vận hành khóa học tiếng Anh cộng đồng. 24 Chương 2: Tổng quan tài liệu 2. Học tập trực tuyến trên các thiết bị di động (mobile learning) Việc học tập diễn ra thông qua việc sử dụng các tài liệu học tập và các nguồn hỗ trợ khác có thể truy cập được qua các thiết bị di động như máy tính, máy tính bảng, điện thoại là được định nghĩa là "học tập trực tuyến".
Máy tính cho phép người học truy cập loại tài liệu họ cần trong học tập trực tuyến tùy thuộc vào lựa chọn và phản hồi của chính họ (Bach, Haynes, & Smith, 2007; Roger và cộng sự, 20). Các tài nguyên học tập trực tuyến có thể đơn giản như các tài liệu được tải xuống ở định dạng PDF hoặc các câu hỏi kiểm tra được lưu trữ ở định dạng Word. Người học cũng có thể truy cập các nguồn học liệu phức tạp hơn như sách hoặc trò chơi tương tác. Ngoài ra, các nội dung học tập cũng có thể được xây dựng dưới dạng văn bản, siêu liên kết, tệp âm thanh, tệp video hoặc kết hợp tất cả các thành phần này theo thứ tự bất kỳ.
Giáo dục trực tuyến có thể ở dạng các trang web bao gồm văn bản, ảnh và siêu liên kết ở dạng cơ bản nhất của chúng. Các trang web này được các nhà giáo dục sử dụng để thay thế cho các sách giáo khoa thông thường hơn. Mặt khác, học trực tuyến có thể có các hình thức phức tạp hơn và bao gồm một loạt các công cụ học tập đa phương tiện (Morrison, 2003; Becker, 2004; Gudea, 2008). Học sinh có quyền truy cập vào các video theo các hướng dẫn được hiển thị tuần tự trên màn hình.
Sau khi hoàn thành một phân đoạn của bài học video, học sinh sẽ có sẵn nhiều tùy chọn khác nhau về nội dung tiếp theo mà các em có thể xem. Các đối tượng học tập phức tạp, chẳng hạn như phần mềm mô phỏng hướng dẫn học sinh cách cất cánh hoặc hạ cánh máy bay, có khả năng đưa vào các nền tảng giáo dục trực tuyến (Becker, 2004). Sự phát triển nhanh chóng của Internet trong những năm gần đây đã dẫn đến sự gia tăng của các hệ thống học tập trực tuyến đa dạng và dễ thích nghi hơn. Hiện tại có các khóa học trực tuyến kết hợp phần mềm hội nghị trực tuyến đồng 25 bộ với định dạng bài giảng truyền thống.
Các hướng dẫn trực tiếp mà các giáo sư đại học dành cho sinh viên của họ đang được ghi lại, tải lên YouTube và được tích hợp vào hệ thống học tập trực tuyến của nhiều tổ chức giáo dục nhằm cung cấp cho sinh viên các nguồn bổ sung để hỗ trợ họ trong quá trình học tập. Học tập kết hợp (blended learning) Bàn về vấn đề tiêu chuẩn hóa việc ứng dụng công nghệ vào việc học, Lafford (2009) và Daniels và cộng sự (2019) gợi ý rằng hình thức này sẽ chỉ được phổ biến rộng rãi nếu nó được bình thường hóa và được kết hợp trong thực tế hàng ngày. Điều này có nghĩa rằng để ứng dụng được một cách rộng rãi, cần có một sự giao thoa giữa các phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với sự phát triển của công nghệ. Vì vậy phương pháp “học tập kết hợp” (blended learning) được đề xuất để làm sáng rõ hơn về ứng dụng của học tập trên thiết bị di động trong thực tế dạy và học và đang dần thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu (Gleason & Greenhow, 2017; Gutiérrez-Braojos và cộng sự, 2019; Zainuddin & Keumala, 2018).
Ngày nay, thuật ngữ học tập kết hợp đã được sử dụng thường xuyên bởi các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục trên thế giới. Rooney (như được trích dẫn trong Alebaikan & Troudi, 2010) tuyên bố rằng học tập kết hợp đã được xác định là một trong mười xu hướng hàng đầu phát sinh trong ngành kinh tế tri thức bởi Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Hoa Kỳ. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “học tập kết hợp” trong tài liệu và chúng thường được tìm thấy trong giáo dục đại học. Theo Oliver và Trigwell (2005), thuật ngữ học tập kết hợp chỉ đơn giản là sự kết hợp của hai hoặc nhiều loại sự vật khác nhau.
Họ lập luận rằng cách giải thích rộng rãi này có nghĩa là hầu hết mọi thứ đều có thể được coi là học tập kết hợp. Tương tự như vậy, học tập kết hợp có thể được mô tả là “một chương trình học tập trong đó nhiều hơn một chế độ phân phối đang được sử dụng với mục tiêu tối ưu hóa kết quả học tập và chi phí phân phối chương trình” (Singh & Reed, 2001, p. Hai định 26 nghĩa về học tập kết hợp của Garrison và Kanuka (2004), và Bonk và Graham (2012) được trích dẫn nhiều lần trong tài liệu. Garrison và Kanuka (2004) định nghĩa “học tập kết hợp là sự tích hợp có suy nghĩ giữa trải nghiệm học tập trực tiếp trên lớp với trải nghiệm học tập trực tuyến” (p.
Họ cho rằng khái niệm tích hợp các lợi thế của các hoạt động học tập đồng bộ (mặt đối mặt) và không đồng bộ (dựa trên Internet) có sức hấp dẫn trực quan đáng kể. Bonk và Graham (2012) định nghĩa học tập kết hợp như sau: “Các hệ thống học tập kết hợp kết hợp hướng dẫn trực tiếp với hướng dẫn qua máy tính” (p. Do đó, có thể kết luận rằng có một sự đồng thuận chung rằng học tập trực tiếp hướng dẫn hoặc học tập trực tiếp và trực tuyến là những thành phần chính trong học tập kết hợp. Trong nghiên cứu này, học tập kết hợp được định nghĩa là sự kết hợp giữa hướng dẫn trực tiếp và các hoạt động trực tuyến bổ sung ngoài lớp học.
Gần đây, học tập kết hợp đã dần trở nên phổ biến và là trọng tâm của một số nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ. Các chủ đề và biến số phổ biến nhất được khảo sát trong việc triển khai học tập kết hợp để tiếp thu ngôn ngữ thứ hai được mô tả trong bảng sau. Chủ đề Nghiên cứu Kĩ năng CNTT của học Abdul Rahman, 2018; Le et al., 2019; Mudure- viên Iacob, 2019; Patmanthara & Hidayat, 2018. Đánh giá của người học Asri Humaira et al., 2019; Hidayat et al., 2019; Hughes et al., 2017; Manwaring et al., 2017; Zulkanain et al.
Đánh giá của giáo viên Kihoza et al., 2020; Rasmitadila et al., 2020; Zilka et al., 2018; Linh & Vu, 2019b 27 Tập huấn giảng viên Breddermann et al., 2016; Hajji et al., 2016; Langset et al., 2018; Qasem & Viswanathappa, 2016; Sunardi et al., 2016; Taylor et al., 2018; Vu, 2006; Vu & Anh, 2014 Tác động đến kết quả học Bader Al Bataineh et al., 2019; Huang, 2019; tập của người học Kurucova et al., 2018; Sabti et al., 2019; Wichadee, 2018; Linh & Vu, 2019a Kiểm tra, đánh giá khi dạy Albiladi & Alshareef, 2019; Bader Al Bataineh học trực tuyến et al., 2019; Bataineh & Mayyas, 2017; Capone et al., 2017; Putri et al., 2019; Vymetalkova & Milkova, 2019 Bảng 1: Các chủ đề phổ biến được điều tra trong việc học ngôn ngữ kết hợp (blended learning) Mặc dù học tập kết hợp nói chung liên quan đến các khía cạnh của cả học trực tiếp và học trực tuyến truyền thống, nhưng nó không tách biệt nhau (Vu, 2008). Thay vào đó, hình thức học tập này là sự kết hợp các phương pháp tiếp cận từ cả hai khía cạnh và là cả quá trình liên tục thành một phương pháp học tập theo cách tiếp cận gắn kết các hoạt động học tập (Asarta & Schmidt, 2017; Astuti & Febrian, 2019a; Basogain và cộng sự, 2018; Gillet và cộng sự, 2017; Nortvig và cộng sự, 2018). Các nhà nghiên cứu khác nhấn mạnh 'sự kết hợp có ý nghĩa' giữa học trực tuyến và học trực tiếp (Astuti & Febrian, 2019b; Geng et al., 2019; Whitelock-Wainwright et al., 2020; Bui et al, 2018a) rằng học tập kết hợp không phải là một cách tiếp cận tuyến tính duy nhất để giảng dạy. Về mặt công nghệ, học tập kết hợp đề cập đến một loạt công nghệ trong giáo dục mà sinh viên có thể học hoàn toàn bên ngoài và tương tác với chương trình giảng dạy thông qua hệ thống quản lý học tập trực tuyến (Linh & Vũ, 2019b).
Mặc 28 dù đã có nhiều ý kiến về những gì nên được đưa vào phạm vi của học tập kết hợp, nhưng có những đặc điểm nổi bật sau đây: • Học hỗn hợp kết hợp một số hình thức học trực tuyến với tương tác ngoại tuyến (Basogain và cộng sự, 2018; Whitelock-Wainwright và cộng sự, 2020; Wicks và cộng sự, 2015). • Phương pháp học tập kết hợp nâng cao khả năng làm việc độc lập của học sinh. Sinh viên có thể tự học và sử dụng các tài liệu và tài nguyên được cung cấp cho họ theo những cách phù hợp nhất với họ (Belfi và cộng sự, 2015; Nortvig và cộng sự, 2018; Sajid và cộng sự, 2016; Vasileva-Stojanovska và cộng sự. • Tương tác giữa người học với nhau trong khoá học trực tuyến là cực kỳ quan trọng.
Việc sinh viên tham gia các lớp học trực tuyến có thể thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào mức độ họ tương tác với những người khác trong môi trường trực tuyến (Asarta & Schmidt, 2017; Li et al. • Cần có sự hỗ trợ của người học cho các hoạt động trực tuyến. Các giảng viên tham gia vào các chương trình này thường cung cấp tất cả sự giúp đỡ và hỗ trợ mà người học cần thông qua cả các cuộc họp ngoại tuyến và các giải pháp trực tuyến (Asarta & Schmidt, 2017; Pisoni, 2019). Các nền tảng công nghệ như Moodle, Blackboard, Canvas, Twitter và Facebook đang nhanh chóng thay thế tính năng trò chuyện và nhắn tin văn bản tức thì.