Tổng quan nghiên cứu

Nền kinh tế tri thức hiện đại khẳng định vai trò then chốt của khoa học và công nghệ khi đóng góp hơn 70% vào tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tại các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hiệu quả vận hành và năng lực đổi mới sáng tạo của mạng lưới tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vẫn còn đối mặt với nhiều rào cản cố hữu. Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ tiến trình triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với hơn 1.200 tổ chức khoa học và công nghệ công lập lẫn ngoài công lập trên cả nước, nơi sự chuyển biến về tư duy quản trị, cơ cấu tài chính và năng lực R&D vẫn chưa đạt kỳ vọng đề ra.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khảo sát, phân tích và đánh giá toàn diện năng lực đổi mới sáng tạo của các tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Trên cơ sở nhận diện rõ hiện trạng tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân lực, tiềm lực tài chính và kết quả đầu ra nghiên cứu, công trình xây dựng hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao khả năng tự chủ và đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các tổ chức khoa học và công nghệ trên quy mô 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, tập trung sâu vào 6 lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành cơ bản. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ định lượng giúp cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ tự chủ tài chính toàn diện lên trên 50%, giảm 30% gánh nặng chi ngân sách thường xuyên và tăng trưởng 25% số lượng đơn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hằng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết đổi mới sáng tạo kinh điển của Joseph Schumpeter kết hợp với hướng dẫn thực tiễn từ Cẩm nang Oslo (Oslo Manual) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Khung lý thuyết này phân định rõ 4 loại hình đổi mới sáng tạo căn bản bao gồm: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tiếp thị và đổi mới tổ chức.

Song song đó, đề tài tích hợp Lý thuyết Hệ thống Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIS) do Christopher Freeman và Bengt-Åke Lundvall phát triển, coi các viện nghiên cứu và trường đại học là những mắt xích trung tâm tạo ra và lan tỏa tri thức đến khu vực doanh nghiệp. Mô hình Ba xoắn ốc (Triple Helix) của Henry Etzkowitz và Loet Leydesdorff cũng được áp dụng nhằm giải thích mối quan hệ tương tác năng động giữa ba chủ thể: Nhà nước – Viện trường – Doanh nghiệp trong quá trình thương mại hóa công nghệ.

Bốn khái niệm nền tảng xuyên suốt công trình gồm có:

  • Năng lực đổi mới sáng tạo: Tập hợp các nguồn lực tri thức, nhân sự, tài chính và năng lực quản trị cho phép tổ chức tiếp thu, cải tiến và tạo ra công nghệ mới.
  • Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D): Hoạt động sáng tạo được tiến hành một cách có hệ thống nhằm làm giàu kho tàng tri thức khoa học và ứng dụng tri thức đó vào thực tiễn.
  • Cơ chế tự chủ khoa học công nghệ: Mức độ độc lập và tự chịu trách nhiệm của tổ chức về tổ chức bộ máy, nhân sự, thực hiện nhiệm vụ khoa học và tài chính theo khuôn khổ Nghị định 115/2005/NĐ-CP.
  • Thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Quá trình chuyển giao, cấp phép, nhượng quyền hoặc trực tiếp sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ kết quả R&D ra thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ cơ sở dữ liệu điều tra thống kê khoa học và công nghệ quốc gia của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, kết hợp báo cáo tài chính và tình hình triển khai đề án đổi mới của các tổ chức trong hai năm 2011 và 2012.

Cỡ mẫu khảo sát chính thức bao gồm 628 tổ chức khoa học và công nghệ đang hoạt động trên phạm vi toàn quốc. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất theo hai tiêu chí cốt lõi:

  • Phân loại theo hình thức sở hữu: Nhóm tổ chức khoa học và công nghệ công lập chiếm tỷ trọng 65,4% và nhóm ngoài công lập chiếm 34,6%.
  • Phân loại theo 6 lĩnh vực nghiên cứu: Khoa học kỹ thuật và công nghệ (chiếm 38,2%), Khoa học nông nghiệp (chiếm 21,5%), Khoa học tự nhiên (chiếm 14,3%), Khoa học y dược (chiếm 11,8%), Khoa học xã hội (chiếm 8,7%) và Khoa học nhân văn (chiếm 5,5%).

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích so sánh chéo (Cross-tabulation) và phân tích tương quan giữa các nhóm chỉ tiêu tiềm lực với đầu ra đổi mới sáng tạo. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ yêu cầu phải định lượng hóa các khía cạnh phi vật thể của năng lực đổi mới sáng tạo, làm rõ sự khác biệt giữa các khối ngành và xác định chính xác các điểm nghẽn trong tiến trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ. Timeline thực hiện thu thập, làm sạch và xử lý dữ liệu kéo dài từ đầu năm 2014 đến cuối năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của các tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam:

Thứ nhất, tiến độ triển khai cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP còn rất chậm và thiếu đồng đều. Tính đến thời điểm khảo sát, chỉ có khoảng 58,4% tổng số tổ chức khoa học và công nghệ đã hoàn thành phê duyệt đề án đổi mới, kiện toàn tổ chức. Đáng chú ý, tỷ lệ tổ chức đạt mức độ tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên và chi đầu tư chỉ dừng lại ở mức 18,2%, trong khi hơn 41,6% các tổ chức vẫn hoạt động theo phương thức bao cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Thứ hai, chất lượng và cơ cấu nhân lực nghiên cứu còn nhiều bất cập. Mặc dù số lượng nhân sự có trình độ đại học trở lên chiếm hơn 78,5% tổng số lao động, tỷ lệ cán bộ có học vị Tiến sĩ chỉ đạt 14,6% và học hàm Giáo sư, Phó giáo sư chiếm chưa đầy 3,8%. Sự phân bổ nhân lực trình độ cao có sự chênh lệch sâu sắc khi hơn 72,0% các nhà khoa học đầu ngành tập trung tại các viện nghiên cứu thuộc cơ quan trung ương ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi các trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ cấp tỉnh chỉ sở hữu khoảng 4,2% cán bộ có trình độ sau đại học.

Thứ ba, cơ sở vật chất và hoạt động R&D chuyên trách còn hạn chế. Chỉ có khoảng 38,5% các tổ chức khoa học và công nghệ thành lập riêng phòng hoặc bộ phận R&D độc lập. Năng suất sáng tạo tài sản trí tuệ ở mức thấp với chỉ số phát minh sáng chế bình quân trong 3 năm liên tiếp chỉ đạt 0,85 sáng chế trên mỗi tổ chức. Đáng báo động là có tới 61,2% tổ chức khảo sát không ghi nhận bất kỳ đơn đăng ký sáng chế hoặc giải pháp hữu ích nào trong suốt chu kỳ 3 năm.

Thứ tư, nguồn kinh phí hoạt động phụ thuộc nặng nề vào ngân sách và hiệu quả thương mại hóa thấp. Nguồn kinh phí cấp từ ngân sách nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng chi phối với 68,5% tổng nguồn thu của các tổ chức trong hai năm 2011 và 2012. Tỷ lệ doanh thu tạo ra từ dịch vụ khoa học công nghệ và bán sản phẩm R&D chỉ đóng góp từ 21,5% đến 24,2%. Tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được thương mại hóa thành công ra thị trường chỉ đạt xấp xỉ 23,8%.

Thảo luận kết quả

Căn nguyên của các hạn chế trên xuất phát từ tâm lý ỷ lại vào nguồn vốn bao cấp kéo dài, quy trình tài chính thanh quyết toán nhiệm vụ khoa học còn nặng tính hành chính và thiếu các cơ chế bảo vệ rủi ro cho hoạt động nghiên cứu mạo hiểm. Thêm vào đó, hành lang pháp lý về định giá tài sản trí tuệ và phân chia lợi nhuận từ kết quả nghiên cứu có nguồn gốc ngân sách chưa đủ thông thoáng để kích thích nhà khoa học gắn bó với thị trường.

Khi so sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, nơi tỷ lệ đóng góp của khu vực tư nhân vào tổng chi tiêu R&D quốc gia đạt trên 55% và tỷ lệ thương mại hóa sáng chế vượt mốc 40%, các chỉ số tương ứng của Việt Nam (lần lượt là dưới 30% và dưới 24%) cho thấy khoảng cách phát triển rất lớn. Mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với khu vực doanh nghiệp vẫn ở trạng thái lỏng lẻo, tạo ra tình trạng các công trình nghiên cứu nghiệm thu xong thường bị cất trong tủ lưu trữ thay vì chuyển giao vào dây chuyền sản xuất thực tế.

Trong khuôn khổ các báo cáo phân tích, dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu phân bổ nguồn kinh phí hoạt động, biểu đồ cột ghép so sánh tỷ lệ tự chủ theo 6 nhóm ngành khoa học và bảng ma trận chéo đánh giá tương quan giữa tỷ lệ nhân lực trình độ cao với số lượng hợp đồng chuyển giao công nghệ thành công.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Hoàn thiện thể chế quản trị công và đẩy mạnh cơ chế tự chủ thực chất: Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính theo hướng trao quyền quyết định tối đa về tổ chức nhân sự, sử dụng tài sản và tái đầu tư lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ khoa học. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2020 đạt tỷ lệ 80% tổ chức khoa học công nghệ công lập tự chủ hoàn toàn chi thường xuyên, giảm tối thiểu 40% thủ tục hành chính trong xét duyệt đề tài. Chủ thể thực hiện: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ.

  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đổi mới chính sách đãi ngộ: Ban hành cơ chế trả lương, thưởng linh hoạt gắn liền với hiệu quả đầu ra nghiên cứu và tỷ lệ thương mại hóa sản phẩm. Xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về quản trị công nghệ và kỹ năng đàm phán hợp đồng sở hữu trí tuệ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ Tiến sĩ lên 25% vào năm 2022 và đảm bảo tối thiểu 30% lợi nhuận chuyển giao được trích thưởng trực tiếp cho tác giả sáng chế. Chủ thể thực hiện: Ban lãnh đạo các Viện nghiên cứu, Trường đại học và cơ quan chủ quản.

  • Kích cầu đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết Viện – Doanh nghiệp: Khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp trích lập đủ 10% thu nhập tính thuế hằng năm vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để liên kết đặt hàng nghiên cứu với các viện, trường. Phấn đấu nâng tỷ lệ các đề tài nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp lên mức trên 45% trong giai đoạn 2018 - 2025. Chủ thể thực hiện: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng các Hiệp hội ngành hàng.

  • Xây dựng hệ thống văn phòng chuyển giao công nghệ và sàn giao dịch sở hữu trí tuệ: Đầu tư nguồn lực thành lập các văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) chuyên nghiệp tại các viện nghiên cứu và trường đại học trọng điểm nhằm làm cầu nối định giá, xúc tiến thương mại và ươm tạo doanh nghiệp khởi nguồn khoa học (Spin-off). Mục tiêu nâng tỷ lệ ứng dụng và thương mại hóa kết quả R&D từ mức 23,8% hiện nay lên trên 50% vào năm 2025. Chủ thể thực hiện: Đại học Quốc gia, các trường đại học kỹ thuật công nghệ lớn và các Viện hàn lâm nghiên cứu khoa học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ chuyên trách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có thể sử dụng bộ chỉ số thống kê thực chứng từ 628 tổ chức để rà soát, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thay thế và hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách khoa học theo định hướng kết quả đầu ra.

  • Lãnh đạo các Viện nghiên cứu, Trường đại học và Trung tâm khoa học công nghệ: Cung cấp khung năng lực và phương pháp luận tự đánh giá toàn diện hoạt động của đơn vị mình, từ đó xây dựng đề án tái cơ cấu tổ chức bộ máy, lộ trình chuyển đổi mô hình tự chủ tài chính và thành lập bộ phận R&D đạt chuẩn quốc tế.

  • Giám đốc R&D và quản lý doanh nghiệp công nghệ: Giúp doanh nghiệp nắm bắt bức tranh toàn cảnh về tiềm lực nghiên cứu của các viện, trường trong từng nhóm ngành cụ thể, tối ưu hóa chiến lược tiếp cận nguồn tài sản trí tuệ và xây dựng các dự án hợp tác nghiên cứu ứng dụng có chi phí hợp lý.

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN, Quản lý Kinh tế: Nguồn tư liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát mẫu lớn, kỹ thuật phân tích ma trận dữ liệu phân tầng và hệ thống cơ sở lý luận về đổi mới sáng tạo trong khu vực công lập.

Câu hỏi thường gặp

Nghị định 115/2005/NĐ-CP mang lại chuyển biến gì lớn nhất cho các tổ chức khoa học công nghệ? Nghị định đã mở đường cho việc xóa bỏ cơ chế bao cấp cào bằng, tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức chủ động khai thác hơn 30% nguồn thu từ dịch vụ ngoài ngân sách nhà nước. Đây là bước đệm then chốt thúc đẩy các nhà khoa học tiếp cận kinh tế thị trường và chủ động tìm kiếm đối tác ứng dụng.

Tại sao tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu chỉ đạt dưới 25%? Nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu vắng các tổ chức trung gian như văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên trách và khung pháp lý định giá tài sản trí tuệ còn vướng mắc. Thực tế cho thấy hơn 75% công trình dừng lại ở mức sản phẩm thử nghiệm trong phòng thí nghiệm do thiếu vốn đầu tư ươm tạo mở rộng quy mô.

Cơ cấu nhân lực tác động thế nào đến năng suất phát minh sáng chế của tổ chức? Dữ liệu khảo sát chứng minh rằng các tổ chức duy trì tỷ lệ cán bộ có trình độ Tiến sĩ trên 20% sở hữu số lượng sáng chế cao gấp 3,2 lần so với các đơn vị còn lại. Tuy nhiên, việc hơn 70% nhân lực chất lượng cao tập trung tại các đô thị lớn đã kìm hãm năng lực sáng tạo của các tổ chức tại địa phương.

Doanh nghiệp cần làm gì để thúc đẩy hoạt động R&D chung với các viện nghiên cứu? Doanh nghiệp nên tận dụng chính sách trích lập tối đa 10% lợi nhuận trước thuế vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để chủ động đặt hàng nghiên cứu. Mô hình này giúp doanh nghiệp giảm khoảng 40% chi phí đầu tư ban đầu so với việc tự xây dựng phòng thí nghiệm độc lập.

Lộ trình tự chủ tài chính khả thi nhất cho một tổ chức nghiên cứu công lập là gì? Luận văn đề xuất mô hình phân kỳ gồm 3 bước: tự chủ một phần chi thường xuyên trong 2 năm đầu, tự chủ toàn bộ chi thường xuyên trong 3 năm tiếp theo và tiến tới tự chủ chi đầu tư để hoạt động tương đương mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ, bảo đảm ổn định trên 60% thu nhập cán bộ.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của 628 tổ chức khoa học và công nghệ trên quy mô toàn quốc, làm sáng tỏ bức tranh hoạt động trong giai đoạn chuyển đổi thể chế.
  • Khẳng định tiến độ chuyển đổi sang cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP vẫn còn nhiều rào cản khi tỷ lệ tự chủ toàn diện mới chỉ đạt mức 18,2%.
  • Nhận diện rõ các nút thắt cốt lõi về tài chính khi ngân sách nhà nước vẫn chiếm đến 68,5% tổng nguồn thu và hơn 61% tổ chức chưa sở hữu phát minh sáng chế độc lập.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và mang tính đột phá về quản trị công, tái cấu trúc nhân lực chất lượng cao, kích cầu doanh nghiệp và thiết lập mạng lưới trung gian thương mại hóa.
  • Cung cấp khung phương pháp luận khoa học, nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách khoa học công nghệ trong dài hạn.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là việc lượng hóa chi tiết các chỉ số năng lực đổi mới sáng tạo, làm cầu nối khoa học vững chắc cho việc sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế tự chủ trong giai đoạn mới. Các cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, tiến hành đánh giá định kỳ 2 năm một lần trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2025 để đo lường hiệu quả chuyển đổi. Ngay từ bây giờ, các nhà quản lý, nhà khoa học và lãnh đạo doanh nghiệp cần chủ động thiết lập liên minh nghiên cứu ứng dụng, đưa tài sản trí tuệ trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững cho đất nước.