Chương 1: Khái quát về đô thị Phú Yên và phong trào đấu tranh chính trị 9 ở đô thị Phú Yên trước năm 1954. Chương 2: Diễn tiến phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975). Chương 3: Một số nhận xét về phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên (1954 – 1975). 10 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐÔ THỊ PHÚ YÊN VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở ĐÔ THỊ PHÚ YÊN TRƢỚC NĂM 1954 1.
Khái quát về đô thị Phú Yên 1. Khái quát về vùng đất Phú Yên và sự hình thành đô thị Tuy Hoà Tỉnh Phú Yên thuộc vùng duyên hải miền Nam Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hoà, phía Tây giáp tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 5.045 km2, chiều dài nơi dài nhất 116 km, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 78 km, nơi hẹp nhất khoảng 46 km. Phú Yên là vùng đất có lịch sử phát triển khá sớm.
Kết quả nghiên cứu khoa học qua các di chỉ khảo co học tại Cồn Đình, Gò Úc, Giồng Đồn thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh tại huyện Sông Cầu cũng như những hiện vật được phát hiện nằm rải rác các địa phương trong tỉnh, cho thấy Phú Yên là vùng đất con người đã tụ cư có niên đại cách ngày nay sớm nhất là từ 4.000 năm và muộn nhất là 2. Tr 127] Thời tiền sơ sử, sự hiểu biết về Phú Yên còn rất hạn chế. Sách Đại Nam thống chí, quyển X viết tỉnh Phú Yên “Xưa là đất Việt Thường, đời nhà Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán là đất Lâm Ấp, đời Tuỳ là quận Lâm Ấp, đời Đường đổi làm châu Lâm, sau bị Chiêm Thành chiếm cứ, tức là đất Bà Đài, Đà Lãng” [66. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận đèo Cả.
Tuy nhiên sau đó Lê Thánh Tông chỉ sáp nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh tho Đại Việt. Vùng đất Phú Yên vẫn thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru (Êa Ryu). 11 Quá trình hình thành cộng đồng dân cư Phú Yên diễn ra mạnh mẽ nhất là vào những năm giữa thế kỷ XVI. Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng là trấn thủ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam của Đại Việt.
Năm 1578 , Nguyễn Hoàng đã “ủy nhiệm Ông Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan, chiêu tập lưu dân đến Cù Mông, Bà Đài (sau này là Xuân Đài) khẩn hoang ở Đà Diễn” và bắt đầu từ đây vùng đất này dần được khai phá mở mang, rồi chính trên cơ sở đó, năm 1611 Chúa Nguyễn mới quyết định thiết lập sự quản lý hành chính chặt chẽ, “lấy đất ấy làm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, đặt phủ Phú Yên " [68. Tr 130 – 131] Năm 1578, ông sai tướng dưới quyền Lương Văn Chánh tấn công vào thành Hồ, là thủ phủ của Chăm Pa tại vùng Ayaru "Êa Ryu" (Phú Yên), thành Hồ bị thất thủ, từ đó vùng đất Ayaru là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm. Theo chính sách của chúa Nguyễn ông đã chiêu tập và đưa lưu dân từ các vùng Thanh - Nghệ, Thuận - Quảng vào đây để khẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp. Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai viên tướng dưới quyền là Văn Phong tấn công vào Aryaru, Chăm Pa thất bại.
Nguyễn Hoàng sáp nhập Ayaru vào lãnh tho Đàng Trong với tên gọi Phú Yên và giao cho Văn Phong cai quản phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân (từ đèo Cù Mông đến phía bắc sông Đà Rằng) và Tuy Hòa (từ phía nam sông Đà Rằng đến núi Đá Bia). Tên gọi “Phú Yên” do chúa Nguyền Hoàng đặt với ước nguyện về một miền đất trù phú, thanh bình trong tương lai. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên (đơn vị hành chính cấp tỉnh). Năm 1899 (năm Thành Thái 11), huyện Tuy Hòa được nâng lên thành phủ Tuy Hòa gồm tong Hòa Bình (phía bắc sông Đà Rằng, được tách ra từ huyện Đồng Xuân) và các tong phía nam sông Đà Rằng là Hòa Đa, Hòa Mỹ, Hòa Lạc.
Đến trước năm 1945, phủ Tuy Hoà có 7 tong: 2 tong ở phía Bắc sông Đà Rằng là tong Hoà Bình và tong 12 Hoà Tường; 5 tong ở phía Nam sông Đà Rằng là Hoà Đa, Hoà Mĩ, Hoà Lạc, Hoà Đồng và Hoà Lộc. Cơ quan hành chính của phủ Tuy Hoà (phủ lị) đầu tiên đóng tại Phú Vinh từ chợ Phước Mĩ tới ga Gò Mầm, gọi là vườn huyện. Năm 1841, phủ lị Tuy Hoà dời xuống Đông Phước (xã Hoà An ngày nay). Năm 1915, phủ lị dời về làng Năng Tịnh (phường 3 ngày nay).
Sau đó phủ lị được mở rộng ra các làng Bình An, An Tịnh, Bình Mỹ, Nhạn Tháp. Khoảng năm 1930, phủ lị Tuy Hoà có nha bang tá, đồn lính khố xanh được tăng cường thêm binh lính, các làng được đoi thành phường (từ phường 1 đến phường 7 vẫn tiếp tục thuộc tong Hoà Bình). Từ năm 1945 – 1954, sau khi giành được chính quyền, phủ lị Tuy Hoà (gồm 7 phưởng) được hình thành như một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Phú Yên. Cuối năm 1945, các cơ quan của Đảng, Việt Minh, chính quyền, quân sự, công an của tỉnh từ tỉnh lị Sông Cầu dời về thị xã Tuy Hoà.
Thị xã Tuy Hoà trở thành tỉnh lị của Phú Yên từ đó. Năm 1946, có sự cải to lớn về hành chính, bỏ cấp Tong, bỏ tên Phủ đặt thành huyện, đồng thời hợp nhất các làng thành xã lớn trực thuộc huyện. Cuối năm 1946, để chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến, toàn tỉnh chia làm 6 chiến khu. Chiến khu I gồm các xã phía Nam sông Đà Rằng; Chiến khu II gồm các xã phía Bắc sông Đà Rằng.
Phần lớn nhân dân thị xã Tuy Hoà và các cơ quan dân chính của tỉnh phải sơ tán về nông thôn, thị xã Tuy Hoà được đặt tên là xã Hoà An, trực thuộc chiến khu II. Cuối năm 1947, bỏ cấp dưới chiến khu, lập lại 4 huyện. Chiến khu I và II hợp nhất thành huyện Tuy Hoà. Từ năm 1955 đến tháng 4 năm 1975, Tuy Hoà thuộc quyền cai quản của Chính quyền Sài Gòn.
Từ năm 1959, huyện Tuy Hoà chia làm 2 quận: quận Tuy Hoà và quận Hiếu Xương. Về phía chính quyền cách mạng vẫn duy trì 3 đơn vị: huyện Tuy Hoà 1, 13 huyện Tuy Hòa 2 (tương ứng với huyện Phú Hòa và TP Tuy Hòa ngày nay) và thị xã Tuy Hoà. Tháng 3/1965, Tỉnh ủy thành lập C6 - đơn vị tiền thân của Thị ủy Tuy Hòa. Ngày 6/8/1965, Tỉnh ủy thành lập Thị ủy Tuy Hòa chỉ đạo 6 phường nội thị và các xã Bình Phú A, Bình Phú B, Bình Phú C (nay là phường 9 và xã Bình Kiến).
Tháng 5/1975, hợp nhất thị xã Tuy Hoà và huyện Tuy Hoà 2 làm một đơn vị hành chính gọi là huyện Tuy Hoà 2. Năm 1977, thực hiện chủ trương xây dựng huyện lớn, huyện Tuy Hoà 1 và huyện Tuy Hoà 2 thống nhất thành một huyện là Tuy Hoà. Đến năm 1979, Huyện Tuy Hoà chia thành 2 đơn vị hành chính. Huyện Tuy Hoà và thị xã Tuy Hoà.
Theo địa giới hành chính ngày nay, thị xã Tuy Hoà có 6 phường và 10 xã nằm về phía Bắc sông Đà Rằng Như vậy, theo dòng chảy của lịch sử, dựa trên sự phân chia hành chính địa lí nêu trên, Tuy Hoà chính là tỉnh lỵ của tỉnh Phú Yên, là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội của tỉnh. Lịch sử hình thành thị xã Tuy Hoà trải qua quá trình lâu dài gần 4 thế kỉ, gắn liền với những biến cố lịch sử đầy biến động của đất nước. Những biến động to lớn của đất nước đã chi phối trực tiếp tới con người và mảnh đất thị xã Tuy Hoà. Một mặt gây ra bao đau thương tang tóc, đảo lộn cuộc sống.
Mặt khác, nó lại là lò rèn đúc nên ý chí kiên cường, tinh thần quật khởi, đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo, nghĩa tình từ khởi đầu cho đến ngày nay. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đô thị Tuy Hoà Trong thời kì chống Mĩ, cứu nước (1954 -1975), Tuy Hoà là đô thị duy nhất của tỉnh Phú Yên. Tại đô thị Tuy Hoà diễn ra phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ, phối hợp với đấu tranh vũ trang, binh vận, cùng với quân dân miền Nam lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mĩ - chính quyền Sài Gòn, đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đề tài tập trung làm rõ thêm vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của đô thị Tuy Hoà để hiểu rõ vì sao địch 14 chọn đây là căn cứ quân sự, vì sao phong trào đấu tranh chính trị của ta lại phát triển mạnh như vậy.
Về điều kiện địa lý tự nhiên : Đô thị Tuy Hòa nằm ở phía nam tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp sông Đà Rằng, phía Bắc giáp huyện Tuy An, phía Tây giáp huyện Sơn Hòa, phía Đông giáp biển, diện tích tự nhiên của thị xã là 338,9km, chiếm 7,3 % diện tích toàn tỉnh. Về địa hình, đô thị Tuy Hoà gồm rừng núi chiếm 2/3 diện tích, đồng bằng chiếm 1/3 diện tích. Đồng bằng phân bố dọc theo hạ lưu sông Đà Rằng; địa hình bãi và bờ biển trải dọc phía đông. Đất đai Tuy Hòa phong phú, đa dạng gồm các loại: nhóm đất đỏ, vàng, nhóm đất đen, đất phù sa, đất cát ven biển.
Phía tây và phía nam của đô thị Tuy Hòa do nhánh núi tách ra từ dãy núi Trường Sơn chạy dài ra biển, như một bờ tường thành bao bọc, che chắn, tạo nên bởi những núi non trùng điệp, có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện tự nhiên trong toàn thị xã. Một số núi tiêu biểu như: núi Nhạn Tháp, núi Chóp Chài. Trải qua 2 cuộc kháng chiến, Chóp Chài là căn cứ của ta để tấn công vào thị xã Tuy Hoà; bọn địch cũng xây dựng trên núi Chóp Chài một khu quân sự kiên cố. Được thiên nhiên nhiệt đới ưu đãi, núi rừng Tuy Hòa có nhiều gỗ quý; có nhiều cây dược liệu rất phong phú và thông dụng; trên rừng có nhiều chim muống, thú rừng, cây dầu rái, cây ư.
Núi rừng Tuy Hoà vừa là phòng thủ quan trọng bảo vệ đô thị, vừa có ý nghĩa kinh tế lớn lao. Đô thị Tuy Hoà có con sông lớn chảy qua là sông Đà Rằng.