Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHONG TRÀO CÔNG NHÂN ĐƯỜNG SẮT Ở NAM TRUNG BỘ TRONG NHỮNG NĂM 1930 – 1945 1. Truyền thống yêu nước và chuyển biến của phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ trong những năm 1930 – 1945 1. Truyền thống yêu nước của nhân dân Nam Trung Bộ Vùng đất Nam Trung Bộ ngày nay vốn nằm trong vương quốc Chăm-pa, nhưng trong quá trình khai phá về phía Nam của cư dân người Việt, dần dần vùng đất này được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt.
Đến thời Nguyễn, vùng đất này hoàn toàn thuộc về lãnh thổ của nước Việt Nam thống nhất, đặt dưới sự cai trị của chính quyền Trung ương Huế. Trong cuộc cải cách hành chính của Hoàng đế Minh Mạng những năm 1831-1832, vùng đất Nam Trung bộ được chia thành 6 tỉnh gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, có 36 phủ, huyện và 3431 làng [36, tr. Nam Trung Bộ là một vùng đất có điều kiện tự nhiên đa dạng, nằm ở phía Nam của dãy Trường Sơn và kéo dài ra biển Đông. Vùng này có bờ biển dài, nhiều cảnh quan và bãi biển đẹp, cũng như các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là chủ quyền và lãnh hải của Việt Nam.
Địa hình Nam Trung Bộ gồm có đồi núi cao ở phía Tây, thuộc dãy Trường Sơn, và đồng bằng ven biển ở phía Đông, có nhiều sông ngòi tưới mát cho nông nghiệp và cây công nghiệp. Ngoài ra, vùng này còn có nhiều vũng vịnh, bán đảo và đảo ven bờ, thuận lợi cho ngư nghiệp và du lịch biển. Nam Trung Bộ có hệ thống giao thông phát triển, kết nối Bắc - Nam và Đông - Tây. Đường sắt xuyên Đông Dương từ thời Pháp, đường cao tốc Bắc - Nam và đường biển qua các cảng biển lớn giúp cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách trở nên thuận tiện hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đất này.
Nam Trung Bộ là một vùng đất giàu tiềm năng và tài nguyên, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Đây cũng là nơi có nhiều di sản văn hóa và lịch sử, gắn liền với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nam Trung Bộ là nơi sinh sống của đông đảo cư dân thuộc nhiều tộc người khác nhau: Kinh (Việt), Chăm, Ba-na, Raglai (Ra Glai), Ê-đê, Hrê, Hoa,. Quá trình hình thành các thành phần dân cư ở vùng Nam Trung Bộ là quá trình lâu dài, đa 11 phương, đa tuyến.
Trải qua quá trình sinh sống phát triển lâu dài, cư dân ở Nam Trung Bộ đã tạo dựng nên những giá trị văn hóa đa dạng phong phú. Những giá trị văn hóa đó chính là sự thích ứng với điều kiện tự nhiên, môi trường sống và sự tiếp biến, giao lưu văn hóa giữa các tộc người. Dù nguồn gốc dân tộc, tiếng nói hay phong tục tập quán có điểm riêng, song cư dân các tỉnh Nam Trung Bộ luôn chung sống hòa bình, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhìn chung lối sống cư dân các tỉnh Nam Trung Bộ cần kiệm, chăm chỉ, trọng nghĩa khí, chất phác, không quá câu nệ, lễ nghi, nhưng cũng không quá phóng khoáng.
Con người ở đây năng động, cứng cỏi, trực tính, thiên về biện bác lý sự, có ý thức cộng đồng, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn. Những đức tính trên ít nhiều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nét riêng trong quá trình đấu tranh, phong trào cách mạng của nhân dân địa phương. Truyền thống yêu nước là một nét đặc trưng của dân tộc Việt Nam, được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử. Nhân dân Nam Trung Bộ - một vùng đất có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, đã có nhiều biểu hiện cao cả của truyền thống yêu nước trong các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Quá trình khai hoang, lập ấp của cư dân vùng đất Nam Trung Bộ đã hun đúc nên tính cách con người nơi đây kiên cường, bất khuất, có tinh thần thượng võ, không cam chịu áp bức, bóc lột. Trong thời kỳ Bắc thuộc, dưới sự cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc trên lãnh thổ nước ta, nhân dân ở quận Nhật Nam đã tự đứng lên đấu tranh chống lại chính quyền đô hộ. Cụ thể, vào thế kỉ II, Khu Liên đã hô hào nhân dân huyện Tượng Lâm 1 đứng lên đấu tranh chống lại chính quyền nhà Hán để giành lấy quyền tự chủ, lập ra nước Lâm Ấp. Qua cuộc khởi nghĩa của Khu Liên đã hình thành lên tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cư nơi đây từ khá sớm, và tinh thần đấu tranh đó ngày càng được tôi luyện theo cùng với tiến trình lịch sử dân tộc.
Trong thời kỳ phong kiến, nhân dân Nam Trung Bộ đã không ngừng kháng chiến chống lại các cuộc xâm lược của các quốc gia hùng mạnh trong khu vực như 1 Huyện Tượng Lâm là vùng đất Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay. 12 Trung Quốc, Xiêm, Chân Lạp,. Tiêu biểu nhất là từ cuối thế kỉ XVIII, nhân dân Nam Trung Bộ đã vùng lên hưởng ứng ngọn cờ Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo, trong đó Bình Định là cái nôi của phong trào Tây Sơn. Nhân dân vùng duyên hải Nam Trung Bộ đã góp phần trực tiếp lật đổ ách thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1777), lật đổ bộ máy chính quyền Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài (1786), đập tan mưu đồ can thiệp và xâm lược của quân Xiêm (1785) và quân Thanh (1789), tạo cơ sở cho sự thống nhất và phục hưng đất nước.
Qua phong trào Tây Sơn đã thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân Nam Trung Bộ trong cuộc đấu tranh chống áp bức, cường quyền và giặc ngoại xâm, từ đó càng tôi luyện hơn nữa truyền thống yêu nước của cư dân nơi đây. Bước sang thời cận đại, khi thực dân pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhân dân Nam Trung Bộ cũng đã không ngừng đấu tranh chống lại ách thống trị của thực dân Pháp. Họ đã tổ chức và tham gia vào nhiều cuộc kháng chiến anh dũng. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Trung Bộ đã có từ khi Pháp nổ súng xâm lược và kéo dài liên tục đến khi phong trào Cần Vương kết thúc cuối thế kỉ XIX.
Khi tiếng gọi của chiếu Cần vương được công bố khắp cả nước, nhân dân Nam Trung Bộ đã hưởng ứng chiếu Cần vương đồng loạt nổi dậy đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất to lớn và làm chậm quá trình bình định của người Pháp ở vùng đất này. Tiêu biểu là phong trào đấu tranh của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định; Trần Văn Dự, Nguyễn Huy Diệu, Phan Bá Phiến, Nguyễn Thành ở Quảng Nam; hoặc khởi nghĩa Lê Thành Phương, Trịnh Phong ở địa bàn các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, …. Sang đầu thế kỉ XX, khi hoàn cảnh lịch sử có nhiều thay đổi, xã hội xuất hiện nhiều nhân tố mới thì các phong trào yêu nước ở đây vẫn diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân như phong trào chống thuế hay cuộc vận động Duy Tân,… Những cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước này đã góp phần làm rung chuyển chế độ thực dân Pháp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân Nam Trung Bộ, bồi đắp thêm cho truyền thống yêu nước Việt Nam.
Đặc biệt đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho phong trào cách mạng ở 13 thời kỳ sau, góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là tầng lớp tiên tiến trong xã hội chọn lựa một con đường mới, một hướng đi mới theo xu thế của thời đại và yêu cầu mới của đất nước Việt Nam. Tóm lại, truyền thống yêu nước của nhân dân Nam Trung Bộ là một nguồn sức mạnh vô cùng quý giá, đã được kiểm chứng qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Chính điều này sẽ là nhân tố vô cùng quan trọng tác động đến phong trào yêu nước và cách mạng Nam Trung Bộ trong đó có phong trào của giai cấp công nhân và đội ngũ công nhân đường sắt ở giai đoạn tiếp theo nhất là từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chuyển biến của phong trào cách mạng Nam Trung Bộ trong những năm 1930 – 1945 Cuối năm 1929, một số phần tử tiên tiến trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết phải thành lập một Đảng Cộng sản, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc đầu năm 1930. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1930 là bước ngoặt quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ở Nam Trung Bộ, sau khi nắm được tin tức về thành công của Hội nghị thành lập Đảng, các tỉnh bộ lâm thời Đông Dương Cộng sản đảng hoặc Đông Dương cộng sản liên đoàn đều nhất trí thực hiện chủ trương hợp nhất của Trung ương Đảng. Lần lượt khắp Nam Trung Bộ, các chi bộ, đảng bộ đã ra đời lãnh đạo phong trào cách mạng.
Địa phương có Đảng bộ ra đời sớm nhất trong các tỉnh Nam Trung Bộ là tỉnh Khánh Hòa. Hệ thống tổ chức của Đảng bộ Tân Việt Khánh Hòa chuyển sang Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, rồi từ Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chuyển sang Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong thời gian ngắn, không bị gián đoạn; cũng có một số cơ sở còn nguyên là đảng Tân-Việt chuyển thẳng sang Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Khánh Hòa được chính thức thành lập ngay từ ngày có quyết định công nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia 14 nhập Đảng Cộng sản Việt Nam là ngày 24-2-1930. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các cơ sở Đảng lại tiếp tục mở rộng, củng cố và phát triển.