Phong Trào Công Nhân Đà Nẵng Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1955-1975)

Khám phá phong trào công nhân Đà Nẵng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1955-1975, vai trò và ảnh hưởng của họ trong lịch sử.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Lịch sử (Quan hệ Quốc tế)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

77
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở ĐÀ NẴNG THỜI KỲ 1955-1960

1.1. Khái quát về tình hình miền nam Việt Nam 1955-1960

1.2. Chính sách của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đối với công nhân ở Đà Nẵng 1955-1960

1.3. Về tư tưởng - chính trị

1.4. Về kinh tế

1.5. Đời sống của công nhân Đà Nẵng 1955-1960

1.6. Thời gian và điều kiện lao động

1.7. Tình trạng thất nghiệp

1.8. Lương công nhân

1.9. Diễn biến phong trào đấu tranh của công nhân Đà Nẵng 1955-1960

1.10. Phong trào công nhân vì mục tiêu chính trị

1.11. Phong trào công nhân vì mục tiêu dân chủ, dân sinh

1.12. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở ĐÀ NẴNG THỜI KÌ 1960-1975

2.1. Khái quát về tình hình miền Nam Việt Nam 1960-1975

2.2. Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với công nhân ở Đà Nẵng 1960-1975

2.3. Về tư tưởng-chính trị

2.4. Về kinh tế

2.5. Đời sống công nhân ở Đà Nẵng 1960-1975

2.6. Thời gian và điều kiện lao động

2.7. Tình trạng thất nghiệp

2.8. Lương công nhân

2.9. Diễn biến phong trào đấu tranh của công nhân Đà Nẵng 1965-1975

2.10. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở ĐÀ NẴNG 1950-1975

3.1. Tính chất của phong trào

3.2. Tính chất dân tộc

3.3. Tính chất dân chủ và dân sinh

3.4. Đặc điểm của phong trào

3.5. Quy mô rộng lớn, sự liên tục và quyết liệt của phong trào

3.6. Hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú, linh hoạt

3.7. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa công nhân ở Đà Nẵng với công nhân các ngành ở các tỉnh khác

3.8. Ý nghĩa của phong trào

3.9. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ hạn chế của phong trào

3.10. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phong Trào Công Nhân Đà Nẵng 1955 1975 Tìm Hiểu

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1955-1975), phong trào công nhân Đà Nẵng đóng vai trò then chốt. Sau Hiệp định Geneva, đất nước tạm thời chia cắt, và Mỹ đã nhanh chóng can thiệp vào miền Nam, biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới. Chính quyền Ngô Đình Diệm (CQNĐD), dưới sự chỉ đạo của Mỹ, thi hành các chính sách đàn áp, khủng bố, và phá hoại phong trào cách mạng. Tuy nhiên, tinh thần yêu nước và đấu tranh của giai cấp công nhân Đà Nẵng vẫn không hề suy giảm. Họ đã góp phần quan trọng vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Phong trào này là minh chứng cho sự kiên cường và bất khuất của lực lượng cách mạng trong cuộc chiến tranh gian khổ.

1.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1955 1975

Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam dưới sự kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm, được Mỹ hậu thuẫn. Mỹ âm mưu biến miền Nam thành căn cứ quân sự, chia cắt lâu dài đất nước. Điều này đã gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ từ nhân dân miền Nam, trong đó có giai cấp công nhân viên chức.

1.2. Vai trò của Đà Nẵng trong chiến lược của Mỹ

Thành phố Đà Nẵng có vị trí chiến lược quan trọng trong chiến lược quân sự của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Đây là nơi tập trung nhiều căn cứ quân sự, khu công nghiệp, và là đầu mối giao thông quan trọng. Do đó, Mỹ và CQNĐD đặc biệt chú trọng kiểm soát và đàn áp phong trào cách mạng tại Đà Nẵng.

II. Chính Sách Kìm Kẹp Công Nhân Đà Nẵng 1955 1960 Phân Tích

Chính quyền Ngô Đình Diệm, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, đã thi hành hàng loạt chính sách nhằm kìm kẹp và đàn áp công nhân Đà Nẵng. Các chính sách này bao gồm đàn áp về tư tưởng chính trị, kiểm soát chặt chẽ về kinh tế, và hạn chế quyền tự do dân sinh của công nhân. Mục tiêu của các chính sách này là nhằm triệt tiêu mọi mầm mống phản kháng và kiểm soát chặt chẽ lực lượng công nhân. Tuy nhiên, những chính sách này đã gây ra sự bất mãn sâu sắc trong giai cấp công nhân và là nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của các cuộc đấu tranh.

2.1. Chính sách đàn áp tư tưởng và chính trị

CQNĐD phát động chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng", đàn áp những người tham gia kháng chiến và những người đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Geneva. Về tổ chức nghiệp đoàn, Diệm-Nhu đề ra “nghiệp đoàn đa nguyên”, bề ngoài có vẻ tự do dân chủ nhưng thực chất nhằm “chống cộng” và chia rẽ lực lượng công nhân.

2.2. Kiểm soát kinh tế và đời sống công nhân

Mỹ thông qua hình thức viện trợ cho chính quyền Sài Gòn, Mỹ nắm mạch máu của nền kinh tế. Đẩy nên công thương nghiệp miền Nam đi vào quỹ đạo của nền công thương nghiệp thuộc địa do Mỹ chi phối. Đời sống của công nhân bị bóc lột nặng nề, tình trạng thất nghiệp diễn ra phổ biến.

2.3. Các biện pháp an ninh và tình báo

Diệm-Nhu tung ra một màn lưới tình báo, mật vụ len lỏi trong công nhân nhằm ngăn chặn, đánh phá phong trào công nhân từ bên trong, làm gián đoạn sự liên lạc với bên ngoài và với lãnh đạo cấp trên. Một số cơ sở cách mạng bị phát hiện và bị bắt.

III. Diễn Biến Phong Trào Công Nhân Đà Nẵng 1955 1960 Giai Đoạn Đầu

Mặc dù bị đàn áp khốc liệt, phong trào công nhân Đà Nẵng vẫn không ngừng phát triển. Các cuộc đấu tranh diễn ra với nhiều hình thức đa dạng, từ đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế, dân sinh đến đấu tranh chính trị. Sự kiên trì và tinh thần đoàn kết của công nhân viên chức đã tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân miền Nam. Phong trào này thể hiện rõ tinh thần yêu nước, chống xâm lược của giai cấp công nhân Đà Nẵng.

3.1. Đấu tranh vì mục tiêu chính trị

Tham gia phong trào Hòa bình, đòi chính quyền thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Geneva, đòi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do. Phong trào Hòa bình là tiếng nói chính nghĩa, công khai bênh vực Hiệp định Genève, bênh vực đường lối thống nhất đất nước thông qua hiệp thương tổng tuyển cử.

3.2. Đấu tranh vì mục tiêu dân chủ dân sinh

Công nhân tham gia các cuộc biểu tình, đình công đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động. Các cuộc đấu tranh này thể hiện sự đoàn kết và tinh thần đấu tranh kiên cường của giai cấp công nhân Đà Nẵng.

IV. Ảnh Hưởng Phong Trào Công Nhân Đà Nẵng 1960 1975 Đánh Giá

Phong trào công nhân Đà Nẵng trong giai đoạn 1960-1975 có ảnh hưởng to lớn đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự tham gia tích cực của giai cấp công nhân đã góp phần làm suy yếu chính quyền Sài Gòn, tạo điều kiện cho các lực lượng cách mạng phát triển. Phong trào này cũng thể hiện vai trò nòng cốt của công nhân viên chức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

4.1. Tác động đến phong trào đấu tranh chung của miền Nam

Phong trào công nhân ở Đà Nẵng góp phần tạo nên một thế trận mới, biến các đô thị bị địch tạm chiếm thành tiền phương của phong trào cách mạng miền Nam, thuận lợi cho việc xây dựng lực lượng cách mạng ở nội đô.

4.2. Góp phần vào sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn

Cùng với phong trào của các tầng lớp nhân dân, phong trào công nhân ở Đà Nẵng đã giáng những đòn mạnh mẽ vào hậu cứ an toàn của Mỹ, và Chính quyền Sài Gòn. Sự tiến công ở thành thị, nòng cốt là phong trào công nhân, có tác dụng từng bước phá lỏng thế kìm kẹp của địch ở đô thị, cô lập địch về chính trị.

V. Bài Học Kinh Nghiệm Phong Trào Công Nhân Rút Ra Giá Trị

Từ phong trào công nhân Đà Nẵng trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về tinh thần đoàn kết, về sự kiên trì đấu tranh, và về vai trò lãnh đạo của Đảng. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

5.1. Tầm quan trọng của đoàn kết và liên minh giai cấp

Sức mạnh của phong trào công nhân đến từ sự đoàn kết nội bộ và sự liên minh với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Chỉ khi có sự đoàn kết, sức mạnh của phong trào mới được phát huy tối đa.

5.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phong trào công nhân luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định sự thành công của phong trào.

VI. Giá Trị Phong Trào Công Nhân Đà Nẵng Tương Lai Phát Triển

Phong trào công nhân Đà Nẵng trong kháng chiến chống Mỹ là một phần không thể thiếu của lịch sử dân tộc. Những đóng góp to lớn của giai cấp công nhân cần được ghi nhận và tôn vinh. Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu và phát huy những giá trị của phong trào trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay.

6.1. Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của phong trào

Cần có các hoạt động bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử liên quan đến phong trào công nhân. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về phong trào cho thế hệ trẻ.

6.2. Phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong thời đại mới

Giai cấp công nhân tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cần tạo điều kiện để công nhân phát huy tối đa năng lực, trí tuệ, góp phần vào sự phát triển của đất nước.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước là cuộc đấu tranh rầm rộ của ngư dân Sông Đà với sự phối hợp của công nhân khuân vác cảng Đà Nẵng, nhà đèn, hỏa xa và công nhân lao động thuộc các ngành nghề khác, cùng chị em tiểu thương thành phố và các vùng phụ cận. Đây là cuộc biểu dương lực lượng của công nhân và nhân dân Đà Nẵng mừng hòa bình được lập lại, chiến tranh chấm dứt và đòi thả số thanh niên bị địch bắt lính. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng ngư dân là Ban cán sự Đảng bộ Sông Đà. Khi cuộc đấu tranh nổ ra, các đồng chí Đoàn Tiềm và Trương Trọng Cảnh, Thành ủy viên tham gia chỉ đạo.

Các đồng chí Huỳnh Thị Lai, Huỳnh Tương, Nguyễn Y làm nòng cốt cho lực lượng công nhân cảng Đà Nẵng và nhân dân Khu Nam tham gia cuộc đấu tranh này. Từ tờ mờ sáng hôm ấy, hàng ngàn công nhân lao động, phần lớn là phụ nữ tập trung trước đồn Võ Tánh là nơi có khá đông thanh niên bị bắt vào lính, đòi xin gặp người nhà. Một số chị em tràn vào đồn. Hai chị Phùng Thị Tương và Đặng Thị Trợ tiến đến cột cờ ở giữa sân đồn, hạ cờ tam tài xuống và kéo cờ đỏ sao vàng lên.

Bọn địch từ trong đồn bắn ra. Chị Phùng Thị Tương hy sinh tại chỗ và chị Đặng Thị Trợ bị 15 thương nặng. Công nhân lao động và nhân dân châm lửa đốt phá các kho tàng, xe quân sự và giải thoát số thanh niên bị địch bắt lính đang bị giam giữ tại đây. Thi hài chị Phùng Thị Tương được bà con đưa về Cẩm Lệ mai táng.

Chị Đặng Thị Trợ được đưa vào bệnh viện Việt Nam cứu chữa. Suốt 2 ngày 1 và 2-8-1954 công nhân Cảng cùng nhân dân Đà Nẵng tổ chức đình công, bãi thị, ủng hộ các cuộc biểu tình. Ngày 3 tháng 8 năm 1954, chị Đặng Thị Trợ hy sinh vì vết thương quá nặng. Sáng 4 tháng 8 năm 1954, đám tang của chị được tổ chức trọng thể.

Chị Đặng Thị Trợ được đưa về mai táng tại Cồn Bồi, quê hương Sông Đà của chị [10; tr. Cũng trong ngày (1-8-1954), tại Đà Nẵng, phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève của công nhân hỏa xa diễn ra sôi nổi. Công nhân hỏa xa đã ký vào bản kiến nghị hoan nghênh Hiệp định Genève đã đem lại hòa bình cho đất nước và yêu cầu các bên phải nghiêm chỉnh thi hành. Chỉ trong một ngày, phong trào đã thu hút 1.000 chữ ký của công nhân hỏa xa và quần chúng nhân dân ký vào bản kiến nghị gởi lên Tòa thị chính và Ủy hội quốc tế Đà Nẵng.

Sự kiện này đã gây tiếng vang lớn trong thành phố lúc bấy giờ [11; tr. Bước sang năm 1955, theo Hiệp định Giơnevơ, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiều lần ra tuyên bố và gởi công hàm kêu gọi chính quyền Sài Gòn ngồi vào bàn hội đàm hiệp thương hai miền, tiến tới tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà. Ngô Đình Diệm đã từ chối không chịu hiệp thương. Trong tình hình đó, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và nhà nước ta, công nhân cảng Đà Nẵng cùng công nhân lao động Đà Nẵng tổ chức liên tiếp các cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử.

Ngày 1 tháng 5 năm 1955, nhân kỷ niệm ngày quốc tế lao động, công nhân cảng Đà Nẵng cùng công nhân lao động ở tất cả 28 khu phố trong thành phố đều tổ chức mít tinh, biểu tình, nêu cao các khẩu hiệu đòi chính quyền Sài Gòn phải cải thiện đời sống, chấm dứt những hành động khủng bố, trả thù, thi hành Hiệp định Giơnevơ, hiệp thương thống nhất nước nhà. Cùng năm 1955, phong trào đấu tranh của công nhân hỏa xa vẫn tiếp tục diễn ra. Ngày 24-7-1955, công nhân hỏa xa Đà Nẵng tiếp tục tranh đấu. Đây là cuộc đấu tranh lớn, có sự liên kết với công nhân hỏa xa Sài Gòn, Tháp Chàm, Nha Trang.

tạo thành 16 làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của công nhân toàn ngành hỏa xa miền Nam. Công nhân đòi Nha Hỏa xa giải quyết nhiều yêu sách như giảm giờ làm việc trong tuần, được lĩnh tiền phụ trội. Trong cuộc đấu tranh này, công nhân hỏa xa Đà Nẵng cũng như công nhân hỏa xa các nơi khác đã dựa vào tổ chức nghiệp đoàn để đấu tranh. Cùng ngày (24-7-1955), Đại diện công nhân hỏa xa Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Tháp Chàm, Sài Gòn.

đã họp đại hội bất thường tỏ rõ quyết tâm đấu tranh đến cùng. Sự đoàn kết nhất trí của công nhân hỏa xa toàn miền Nam tạo thành áp lực mạnh mẽ khiến Nha Hỏa xa phải giải quyết yêu sách của công nhân: “Được nghỉ chiều thứ bảy và anh em thuộc bộ phận xa-vu, óc-lộ được lãnh thêm tiền phụ trội nếu số giờ làm việc vượt quá số giờ qui định” [12; tr. Cuộc đấu tranh của 300 công nhân khuân vác bến tàu Đà Nẵng và công nhân hãng SAPTO ngày 13-11-1956. Vào ngày này, có 9 chiếc xà lan chở xi măng cập cảng Đà Nẵng.

Do trời mưa, công nhân không thể bốc hàng lên bến, 3 công nhân của hãng phải ở lại trên xà lan để trông hàng. 22 giờ hôm đó, viên đốc công hãng SAPTO đi kiểm tra và tuyên bố đuổi việc ngay lập tức 3 công nhân vì cho rằng họ không chịu bốc hàng. Sáng hôm sau, 16 công nhân SAPTO đình công, công nhân khuân vác bến tàu Đà Nẵng đã đồng loạt đình công hưởng ứng, không chịu bốc vác hàng hóa. Mặc dù bọn chủ dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để công nhân trở lại làm việc song họ vẫn quyết tâm giữ vững yêu sách của mình.

Trước tình hình ấy, chủ hãng SAPTO ở Đà Nẵng buộc phải thỏa mãn toàn bộ yêu sách của công nhân, chấp nhận để 3 công nhân trở lại làm việc [13; tr. Bên cạnh cuộc đấu tranh của công nhân hãng SAPTO và công nhân bến tàu, trong năm 1956 còn nhiều cuộc đấu tranh khác như cuộc đấu tranh của 44 công nhân hãng Shell đòi áp dụng luật bồi thường theo Dụ số 9; cuộc đấu tranh của công nhân nhà đèn chống sa thải 6 công nhân, đòi nghỉ chiều thứ 7 hàng tuần và hưởng lương những ngày nghỉ do bệnh tật, đau ốm; cuộc đấu tranh của công nhân nhà hàng Morin Đà Nẵng làm đơn kiến nghị trả tiền thâm niên. Ngày 21 tháng 8 năm 1955, hàng ngàn công nhân lao động ở cảng Đà Nẵng và nhà máy đèn, hỏa xa, ngư dân sông Đà cùng bà con tiểu thương ở các chợ tổ chức đấu tranh. Vào ngày này, áp phích và truyền đơn được dán và rải khắp nơi trên địa bàn thành phố, tại các nhà máy, công sở, xí nghiệp, bến đò, chợ, trường học.

nhiều khẩu 17 hiệu đấu tranh của công nhân lao động được kẽ trên tường, trên sà lan. với các nội dung như đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước, đòi bãi bỏ lệnh giới nghiêm để công nhân tự do đi lại làm ăn. Tiếp theo, ngày 16-7-1958, diễn ra cuộc đấu tranh của công nhân nhà đèn Đà Nẵng. Nguyên nhân là bọn chủ buộc công nhân phải làm việc từ 12 tiếng đồng hồ mà không được hưởng phụ cấp theo luật định; khi đau ốm, công nhân cũng không được nghỉ; nhằm trả lương thấp hơn, bọn chủ thường xuyên sa thải công nhân cũ, nhận công nhân mới.

Vì vậy, công nhân đã nhiều lần đấu tranh đòi chúng không được sa thải công nhân, cải thiện đời sống và điều kiện làm việc nhưng không được chấp nhận. Ngày 16 7-1958, hàng trăm công nhân nhà đèn bãi công đưa kiến nghị lên giới chủ, đồng thời để gây áp lực, công nhân nhà đèn đã kêu gọi sự ủng hộ của công nhân trên toàn miền Nam. Công nhân ở Huế, Khánh Hòa đều lên tiếng ủng hộ. Đặc biệt, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn với 73 nghiệp đoàn tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ cuộc đấu tranh của công nhân nhà đèn Đà Nẵng.

Công nhân ở nhiều địa phương còn quyên góp tiền để hỗ trợ công nhân nhà đèn Đà Nẵng đấu tranh. Trước tinh thần đoàn kết và sự ủng hộ của công nhân miền Nam, giới chủ phải chịu nhượng bộ phần lớn yêu sách của công nhân, phải trả cho công nhân 180.000 đồng tiền phụ cấp thâm niên và tăng 33% tiền lương các giờ làm thêm. Cuộc đấu tranh đã kết thúc thắng lợi [15; tr. Ngoài những cuộc đấu tranh trên, công nhân Cảng còn cùng với công nhân các ngành và nhân dân thành phố tổ chức viết đơn, kiến nghị gửi chính quyền các cấp của địch, đã tập hợp được 2000 bản kiến nghị gửi ủy hội quốc tế tại Đà Nẵng với nội dung yêu cầu địch nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ, tổ chức hiệp thương hai miền và tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.

Phát huy thắng lợi các cuộc đấu tranh trên, trong năm 1955, công nhân Cảng đã tham gia đấu tranh chống cuộc “trưng cầu dân ý” của Ngô Đình Diệm tổ chức vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, nhằm truất phế Bảo Đại để đưa Diệm lên làm Tổng thống. Bọn tay chân của Diệm âm mưu lợi dụng các nghiệp đoàn của công nhân lao động để tuyên truyền ủng hộ Diệm, song các nghiệp đoàn cơ sở, trong đó có nghiệp đoàn cảng Đà Nẵng chống lại, viện cớ nghiệp đoàn là tổ chức nghề nghiệp không đảng phái, chỉ vì quyền lợi của công nhân nên không chấp hành lệnh của Liên hiệp nghiệp 18 đoàn Đà Nẵng ủng hộ Diệm. Bọn Liên hiệp nghiệp đoàn Đà Nẵng răn đe để khủng bố tinh thần công nhân nhưng không thành công. Đây là thắng lợi của công nhân lao động Đà Nẵng, đặc biệt là các cơ sở của ta nằm trong hệ thống nghiệp đoàn [16; tr.

Tuy nhiên, hình thức đấu tranh phổ biến trong cuộc chống “Trưng cầu dân ý” của Ngô Đình Diệm là công nhân không đi bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu không theo ý của Diệm. Phong trào công nhân vì mục tiêu dân chủ, dân sinh Song song với các cuộc đấu tranh chính trị, công nhân cảng Đà Nẵng còn liên tiếp đấu tranh kết hợp đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ với đòi hiệp thương thống nhất đất nước. Vào tháng 10 tháng 1954 đang mùa mưa giá gạo đắt đỏ, công nhân lao động gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình này, khu phố ủy Khu Nam, nơi có nhiều công nhân Cảng sinh sống, đồng chí Trần Mỹ Lợi, bí thư chủ trương vận động công nhân, lao động ở đây đấu tranh đòi địch bán gạo cho dân.

Từ sáng sớm, 2000 công nhân lao động tập trung trước quận đường Hòa Vang đề nghị Quận trưởng giải quyết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phong Trào Công Nhân Đà Nẵng Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1955-1975)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và sự phát triển của phong trào công nhân tại Đà Nẵng trong bối cảnh kháng chiến chống Mỹ. Tài liệu không chỉ nêu bật những hoạt động của công nhân mà còn phân tích những ảnh hưởng của phong trào này đến cuộc chiến tranh và sự hình thành ý thức cách mạng trong quần chúng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về sự đoàn kết và sức mạnh của lực lượng công nhân trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này.

Để mở rộng thêm kiến thức về phong trào công nhân và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ công nhân Bình Định thời kỳ 1897-1945, nơi cung cấp cái nhìn về phong trào công nhân ở một khu vực khác trong lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Luận án phong trào công nhân ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011 sẽ giúp bạn so sánh và đối chiếu với các phong trào công nhân ở nước ngoài. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và ý nghĩa lịch sử của nó cũng có thể cung cấp thêm bối cảnh lịch sử quan trọng liên quan đến tư tưởng lãnh đạo trong thời kỳ kháng chiến. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phong trào và tư tưởng trong lịch sử Việt Nam.