Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số 9 22 90 01) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Nguồn, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Lan vào năm 2019, mang tiêu đề: "Tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và ý nghĩa lịch sử của nó".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu kế thừa và phát huy các giá trị tư tưởng truyền thống trong lịch sử dân tộc, đồng thời phân tích những hạn chế lịch sử nhằm phục vụ công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phòng chống tham nhũng hiện nay. Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng tại Việt Nam, xác lập quyền thống trị trên một lãnh thổ thống nhất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Trong giai đoạn trị vì của ba vị vua đầu triều (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị), hệ thống thể chế hành chính, quân sự và tư pháp được xây dựng hoàn bị, điển hình là sự kết hợp giữa mô hình đức trị của Nho giáo và pháp trị qua bộ Hoàng Việt luật lệ. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: nhiều công trình trước đây chỉ tiếp cận dưới góc độ sử học hoặc phân tích tư tưởng chính trị chung, chưa làm rõ khái niệm "tư tưởng trị nước" một cách hệ thống, thậm chí có ý kiến đồng nhất tư tưởng trị nước với việc "trị quan". Luận án xác định tư tưởng trị nước là hệ thống quan điểm về đường lối quản lý, xây dựng, phát triển đất nước và tổ chức, điều hành bộ máy nhà nước.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những nội dung căn bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đầu triều Nguyễn, từ đó chỉ ra các giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử đối với việc xây dựng đường lối chính trị - xã hội nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Thứ nhất, phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho sự ra đời tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
- Thứ hai, trình bày nội dung cơ bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
- Thứ ba, chỉ ra những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các văn bản, tác phẩm của vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, các bộ chính sử triều Nguyễn và các công trình học thuật liên quan trong giai đoạn lịch sử từ năm 1802 đến năm 1847.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia thành ba nhóm công trình chính:
Nhóm nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX:
Các công trình lịch sử tổng quát như "Lịch sử Việt Nam" của GS. Nguyễn Khánh Toàn chủ biên; "Lịch sử cận đại Việt Nam" (Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, 1960); "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" tập III (Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, 1965) phản ánh quan điểm phê phán triều Nguyễn phục hồi quan hệ sản xuất cũ, kìm hãm lực lượng sản xuất mới. Luận án "Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ: 1802 - 1847" của Nguyễn Sĩ Hải (1962) khảo cứu cơ cấu cơ quan giám sát trung ương. Tác phẩm "Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn" của Nguyễn Thế Anh (1971) nghiên cứu thương nghiệp, chính sách thuế khóa và ngoại thương. Công trình "Lịch sử Việt Nam từ năm 1427 đến 1858" (1971) và "Việt Nam thế kỷ XIX" (1999) của Nguyễn Phan Quang phân tích chính sách thương nghiệp và hạn chế của quan lại. Tác phẩm của Alexander Barton Woodside (1971) so sánh chính quyền dân sự, giáo dục, khoa cử giữa nhà Nguyễn và nhà Thanh. Các nghiên cứu của Đỗ Bang (1996, 1997) phân tích ngoại thương và sự tập quyền tuyệt đối của nhà Nguyễn. Các bài viết của Huỳnh Công Bá (2001, 2002, 2016) khảo sát pháp chế về nhân thân, tài sản phụ nữ và tố tụng triều Nguyễn. Bộ sách "Lịch sử Việt Nam" tập 5 của PGS. Trần Đức Cường tổng chủ biên (2017) và kỷ yếu hội thảo năm 2008 do Phan Huy Lê chủ trì đã nhìn nhận khách quan hơn về công lao thống nhất bờ cõi và xác lập chủ quyền. Các tác giả Lê Thị Lan (2015), Trần Nam Tiến (2012), Nguyễn Thanh Bình (2018) đóng góp các nghiên cứu về đặc trưng triết học, chính sách tôn giáo và đạo đức Nho giáo thời kỳ này.
Nhóm nghiên cứu về tư tưởng trị nước của Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị:
Nguyễn Minh Tường (1996, 2007) khảo sát cải cách hành chính và tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia của vua Minh Mệnh. Lê Sỹ Thắng (1997), Nguyễn Tài Thư (1997) khảo cứu sự phát triển của Nho học triều Nguyễn. Bùi Huy Khiên (2011) rút ra bài học cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông và Minh Mệnh. Nguyễn Hoài Văn (2002), Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Cơ, Phan Ngọc Liễn (2011) tiếp cận tư tưởng chính trị Nho giáo và cải cách hành chính. Giáo trình lịch sử tư tưởng triết học của Doãn Chính (2013), Nguyễn Tài Đông (2016) khái quát tiến trình triết học triều Nguyễn. Các bài viết chuyên sâu của Phan Quốc Khánh (2004), Phan Thị Thu Hằng (2012), Nguyễn Công Việt (2013), Lê Thị Lan (2015, 2016) phân tích tư tưởng đạo đức, tư tưởng pháp trị của Minh Mệnh và tư tưởng trị nước của Gia Long.
Nhóm nghiên cứu về giá trị, hạn chế của tư tưởng trị nước:
Công trình "Nho giáo" của Trần Trọng Kim (thập niên 1930) đánh giá vai trò của Nho giáo trong việc duy trì trật tự xã hội. Quang Đạm với "Nho giáo xưa và nay" và Đỗ Bang (2007) phân tích cơ chế điều tiết cực quyền. Trần Việt Thắng (2014) làm rõ nguyên nhân tái độc tôn Nho giáo, thi hành lệ "Tứ bất" và kiểm soát tôn giáo.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết là: Vượt qua các đánh giá cực đoan trước đây (hoặc phủ nhận hoàn toàn công lao, hoặc ca ngợi phiến diện), luận án nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống tư tưởng trị nước của cả ba vị vua đầu triều Nguyễn từ giác độ Triết học. Luận án làm rõ cơ sở triết học của sự kết hợp đức trị và pháp trị, phân tích các chính sách trên các lĩnh vực cụ thể và đúc kết các bài học lịch sử cho thực tiễn hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trọng tâm lý thuyết bao gồm:
- Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
- Nguyên lý về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, biểu hiện qua sự tác động trở lại của ý thức tư tưởng đối với đời sống kinh tế - chính trị và sự tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội (ý thức chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo).
- Luận án vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân để làm tiêu chí đánh giá giá trị, hạn chế và bài học kinh nghiệm.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành Triết học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để phân tách các văn bản chiếu, chỉ, dụ, luật pháp thành các bình diện tư tưởng cụ thể, sau đó khái quát thành hệ thống tư tưởng trị nước.
- Phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử: Xem xét sự vận động của tư tưởng trị nước trong mối liên hệ mật thiết với bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh tư tưởng trị nước giữa ba vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị; đối chiếu với mô hình quản lý của các triều đại trước (thời Lê sơ) và triều Thanh (Trung Quốc).
Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm:
- Các văn bản quy phạm và tư liệu gốc: Bộ luật Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long ban hành năm 1813), các châu bản, chiếu chỉ, sắc dụ của ba vị vua.
- Các bộ chính sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (như Đại Nam thực lục).
- Các công trình khảo cứu, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành Triết học, Nghiên cứu Lịch sử, Hán Nôm trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan đến triều Nguyễn và tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều. Tác giả chỉ ra rằng giới nghiên cứu trước đây tồn tại hai khuynh hướng đánh giá đối lập:
- Khuynh hướng thứ nhất mang nặng định kiến, coi triều Nguyễn là triều đại phản động toàn diện, "cõng rắn cắn gà nhà", phục hồi chế độ phong kiến lỗi thời.
- Khuynh hướng thứ hai (chủ yếu từ sau thời kỳ Đổi mới và rõ nét từ hội thảo năm 2008 tại Thanh Hóa) nhìn nhận khách quan hơn, ghi nhận công lao thống nhất bờ cõi, tổ chức hành chính quy củ và xây dựng nền tảng pháp luật hoàn bị.
Luận điểm then chốt của chương là xác định sự thiếu vắng của một công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học về toàn bộ tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều Nguyễn. Tác giả xác lập khung nghiên cứu của luận án: phân tích tư tưởng trị nước như sự kết hợp giữa hệ tư tưởng chính thống Nho giáo với tư tưởng pháp trị, thể hiện qua tổ chức bộ máy nhà nước và các chính sách quản lý xã hội.
Chương 2: Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng trị nước của các vua đầu triều Nguyễn
Chương 2 trình bày bức tranh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX và các tiền đề tư tưởng, xã hội dẫn đến sự hình thành đường lối cai trị của triều Nguyễn.
Tình hình chính trị và tổ chức hành chính:
Sau năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước, lấy Phú Xuân làm kinh đô. Ban đầu, chính quyền trung ương duy trì hai tổng trấn: Bắc Thành (quản lý 11 trấn do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đứng đầu) và Gia Định Thành (quản lý 5 trấn do Nguyễn Văn Nhân và Lê Văn Duyệt phụ trách). Nhằm nhất thể hóa hành chính và xóa bỏ quyền lực phân tán, vua Minh Mệnh tiến hành cuộc cải cách hành chính quy mô lớn vào năm 1831 - 1832, xóa bỏ hai tổng trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên.
Dữ liệu phân cấp hành chính toàn quốc đến năm 1840 được thống kê cụ thể trong bảng sau:
| Đơn vị hành chính |
Số lượng theo thống kê năm 1840 |
| Tỉnh và phủ trực thuộc |
30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên |
| Phủ |
90 phủ |
| Phân phủ |
20 phân phủ |
| Huyện |
379 huyện |
| Tổng |
1.742 tổng |
| Xã, thôn, phường, ấp |
18.265 xã, thôn, phường, ấp |
Bộ máy chính quyền trung ương gồm 6 Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công), Đô sát viện (Ngự sử đài với 6 khoa làm nhiệm vụ thanh tra), Hàn lâm viện, 5 Tự, Nội các (thành lập năm 1829 trên cơ sở Thị thư viện và Văn thư phòng), Viện Cơ mật (thành lập năm 1834 gồm Tứ trụ đại thần) và Tôn nhân phủ. Triều đình duy trì nguyên tắc "Tứ bất": không đặt tể tướng, không phong hoàng hậu, không lấy trạng nguyên, không phong tước vương cho người ngoài họ tôn thất. Đối với miền núi, Minh Mệnh bãi bỏ lệ thế tập của các thổ ti từ năm 1829, thay thế bằng chế độ lưu quan tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Chế độ khoa cử được tổ chức lại với khoa thi Hương đầu tiên năm 1807 và khoa thi Hội đầu tiên năm 1822.
Tình hình luật pháp:
Năm 1811, vua Gia Long giao Nguyễn Văn Thành chủ trì soạn thảo bộ luật mới trên cơ sở tham khảo luật Hồng Đức và luật nhà Thanh. Năm 1813, bộ "Hoàng Việt luật lệ" (Luật Gia Long) chính thức được ban hành gồm 22 quyển, 398 điều. Bộ luật đã lược bỏ một số hình phạt hà khắc của luật Thanh (như tội xử tử, quy định hối lộ và xử lý phụ nữ có thai), đồng thời tái lập các chế tài nghiêm khắc đối với tội phản nghịch, tham nhũng và áp dụng hình phạt đày làm nô tì.
Tình hình quân sự:
Quân đội được chia thành Thân binh, Cấm binh, Tinh binh (biền binh) và Thuộc binh. Thời Gia Long (1802 - 1819), triều đình chế tạo 1.440 cỗ súng các loại mang các danh hiệu như Thần uy vô địch, Chấn uy Đại tướng quân, Thảo nghịch, Bình ngụy, Vũ uy... Đến thời Minh Mệnh, năm 1825 lập thêm 6 xưởng đúc vũ khí; xưởng đúc súng phường Đúc (Huế) tập trung 8.000 thợ; xưởng đóng tàu chiến thu hút 8.000 người. Kinh thành Huế được bố trí 404 khẩu đại bác. Minh Mệnh là vị vua đầu tiên tổ chức huấn luyện hợp đồng tác chiến giữa bộ binh và thủy binh.
Các quy định về nghĩa vụ và chế độ quân sự được tổng hợp như sau:
| Tiêu chí |
Quy định cụ thể dưới thời Nguyễn sơ |
| Thời hạn nghĩa vụ quân ngũ |
10 năm (đối với lính tuyển từ Nam Kỳ và từ Hà Tĩnh trở ra Bắc); 15 năm (đối với lính từ Quảng Bình đến Khánh Hòa) |
| Độ tuổi tối đa trong quân ngũ |
50 tuổi |
| Tuyển chọn sĩ quan võ |
Tổ chức các kỳ thi võ, người đỗ được phong phẩm quan, người hợp cách sung làm Hành tẩu tại các nha Túc vệ |
| Hạn chế về trang bị cuối thời kỳ |
Cứ 50 lính mới có 5 người có súng; mỗi năm tập bắn 1 lần, mỗi lần 6 phát đạn; đình trệ đóng tàu máy hơi nước |
Tình hình ngoại giao:
Sau khi lên ngôi, tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long cử Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ cùng Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn đem phẩm vật sang nhà Thanh cầu phong; năm 1804 triều Thanh sang làm lễ sắc phong tại điện Kính Thiên; định lệ 4 năm triều cống một lần. Với phương Tây, triều đình thi hành chính sách "bế quan tỏa cảng", không đặt bộ ngoại giao riêng mà giao việc bang giao cho Bộ Lễ phụ trách. Minh Mệnh kiên quyết từ chối thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây, kể cả Pháp.
Tình hình kinh tế:
Nông nghiệp là căn bản. Năm 1804, vua Gia Long ban hành phép quân điền phân chia ruộng công làng xã.
Định mức cấp chia ruộng đất công theo quy định năm 1804:
| Đối tượng thụ hưởng |
Số phần ruộng đất công được cấp |
| Quý tộc, vương tôn |
18 phần |
| Quan lại nhất phẩm |
15 phần |
| Tầng lớp dân nghèo |
3 phần |
Năm 1839, Minh Mệnh mở rộng cấp ruộng cho quan lại về hưu và thu hồi một phần ruộng tư để phân chia lại. Về khai hoang, hình thức doanh điền do Nguyễn Công Trứ khởi xướng từ năm 1828 kết hợp nhà nước và nhân dân đã lập thêm nhiều huyện mới. Về công thương nghiệp, triều đình nắm độc quyền khai thác mỏ (đồng, chì, kẽm), xưởng đúc tiền (Bắc Thành tiền cục lập năm 1803; đúc tiền kẽm năm 1812), áp đặt thuế cao và thực hiện chính sách "ngăn sông cấm chợ", "trọng nông ức thương".
Các tiền đề hình thành tư tưởng trị nước:
Gồm sự thống nhất trọn vẹn về mặt lãnh thổ; sự phục hưng của học thuyết chính trị Nho giáo (Tống Nho kết hợp Hán, Đường Nho); vai trò của tầng lớp nho sĩ; và phẩm chất cá nhân, kinh nghiệm thực tiễn qua chiến tranh của các vị vua đầu triều.
Chương 3: Những nội dung tư tưởng trị nước cơ bản của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị
Chương 3 trình bày các trụ cột nội dung tư tưởng trị nước của ba vị vua:
- Xây dựng hệ tư tưởng chính trị: Lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, độc tôn để củng cố vương quyền; vận dụng nguyên lý "ngoại Nho, nội Pháp", kết hợp đạo lý nhân nghĩa với kỷ cương luật pháp nghiêm ngặt.
- Tư tưởng tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước: Tập trung quyền lực tối cao vào tay hoàng đế; tổ chức chính quyền hành chính gọn nhẹ, phân định rõ chức trách từ trung ương tới địa phương; ban hành quy chế giám sát quan lại, thực thi chế độ sát hạch, khảo hạch định kỳ và luật Hồi tỵ nhằm hạn chế phe cánh cục bộ và phòng ngừa quan lại lộng quyền, tham nhũng.
- Các chính sách trị nước cụ thể:
- Chính sách kinh tế: Coi nông nghiệp là gốc (dĩ nông vi bản), đẩy mạnh quân điền, doanh điền, khuyến khích đắp đê trị thủy; kiểm soát chặt chẽ công thương nghiệp và lưu thông hàng hóa.
- Chính sách an ninh - quốc phòng: Tổ chức quân đội chính quy, kết hợp phòng thủ bờ biển với phòng thủ lục địa, chú trọng xây dựng đồn lũy, thành trấn và diễn tập tác chiến hợp đồng.
- Chính sách văn hóa - tư tưởng và giáo dục - khoa cử: Chuẩn hóa giáo dục khoa cử theo kinh điển Nho gia; truyền bá luân lý tam cương, ngũ thường qua việc ban hành "10 điều huấn dụ"; bảo tồn văn hóa truyền thống và chấn chỉnh phong tục tập quán.
- Chính sách tôn giáo: Đề cao Nho giáo, hạn chế ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo; ban hành 5 chỉ dụ cấm đạo Thiên chúa nghiêm ngặt do lo ngại sự xói mòn trật tự chính trị và nguy cơ can thiệp từ phương Tây.
- Chính sách ngoại giao: Giữ thái độ thuần phục, hòa hiếu với nhà Thanh; giữ quyền áp chế với các nước láng giềng khu vực; kiên quyết đóng cửa, bế quan tỏa cảng trước áp lực giao thương và ngoại giao của các cường quốc phương Tây.
Chương 4: Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử từ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đối với đời sống chính trị - xã hội nước ta hiện nay
Chương 4 đánh giá toàn diện hai mặt của tư tưởng trị nước và liên hệ thực tiễn:
Giá trị lịch sử:
- Khẳng định và củng cố vững chắc nền thống nhất quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.
- Thiết lập một mô hình quản lý hành chính tập trung, phân cấp minh bạch, vận hành quy củ.
- Xây dựng hệ thống luật pháp thành văn hoàn chỉnh (Hoàng Việt luật lệ), tạo lập cơ sở pháp lý cho quản lý xã hội, đề cao kỷ cương phép nước.
- Đúc kết kinh nghiệm quản trị đội ngũ công quyền thông qua chế độ khảo hạch, sát hạch và các biện pháp trừng trị tham nhũng quyết liệt.
Hạn chế lịch sử:
- Tính chất chuyên chế cực quyền tập trung vào nhà vua dẫn đến sự độc đoán; chính sách hình pháp có lúc quá hà khắc làm nảy sinh phản kháng xã hội (hơn 200 cuộc nổi dậy dưới thời Minh Mệnh).
- Tư tưởng "trọng nông ức thương", nhà nước nắm độc quyền kinh tế và ngăn cản giao thương nội thương, ngoại thương đã bóp nghẹt động lực phát triển kinh tế hàng hóa.
- Quan điểm bảo thủ về văn hóa - tư tưởng và chính sách bế quan tỏa cảng, cấm đạo gay gắt đã cô lập đất nước trước những chuyển biến của thế giới, làm suy giảm tiềm lực phòng thủ quốc gia và không chuẩn bị đủ khả năng đối phó với họa xâm lược của thực dân phương Tây.
Bài học lịch sử:
- Bài học về tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, thực hiện cải cách hành chính đồng bộ, tinh gọn, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu.
- Bài học về hoàn thiện hệ thống luật pháp nghiêm minh, kết hợp chặt chẽ giữa "đức trị" (giáo dục đạo đức, nêu gương) và "pháp trị" (thượng tôn pháp luật).
- Bài học về công tác tuyển chọn, đào tạo, kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng, suy thoái trong đội ngũ cán bộ, công chức.
- Bài học về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm tới đời sống dân sinh, tránh việc cai trị bằng mệnh lệnh hành chính quan liêu, hà khắc.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu ba đóng góp mới về mặt khoa học:
- Luận án làm rõ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị trong nửa đầu thế kỷ XIX với sự phân tích triết học về cách thức tổ chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện luật pháp vì mục tiêu căn bản được xác định ngay từ đầu triều đại là nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.
- Làm rõ những giá trị, hạn chế của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị trong quản lý, điều hành trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và tôn giáo.
- Luận án rút ra bài học lịch sử từ những giá trị và hạn chế trong tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn đối với đời sống chính trị - xã hội nước ta hiện nay.
Về mặt khuyến nghị và giải pháp, công trình đề xuất tham khảo các cơ chế quản trị quan lại của triều Nguyễn (chế độ kiểm tra, sát hạch công trạng, thực hiện quy định hồi tỵ để phòng ngừa lợi ích nhóm, quy trách nhiệm cụ thể đối với quan lại sai phạm) nhằm vận dụng vào quá trình hoàn thiện thể chế công vụ, nâng cao tính nghiêm minh của kỷ cương phép nước và củng cố hiệu lực của bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi khảo sát tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều trong khung thời gian 1802 - 1847, do đó chưa bao quát được toàn bộ tiến trình lịch sử triều Nguyễn ở giai đoạn sau (từ triều Tự Đức trở đi cho đến năm 1945), thời điểm xuất hiện các biến động phức tạp dưới tác động của cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Ngoài ra, nguồn tư liệu chủ yếu dựa trên các bộ chính sử, văn bản hành chính của triều đình và các công trình thứ cấp đã xuất bản, chưa khai thác sâu các nguồn tư liệu địa phương hoặc văn bản tư nhân đương thời.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở gồm:
- Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo cứu tư tưởng trị nước của triều Nguyễn trong nửa sau thế kỷ XIX, phân tích sự biến đổi của hệ tư tưởng phong kiến trước thử thách giữ nước và canh tân đất nước.
- Đi sâu nghiên cứu so sánh đối chiếu tư tưởng trị nước triều Nguyễn với tư tưởng trị quốc của các vương triều phong kiến cùng thời kỳ tại khu vực Đông Á (như triều Thanh ở Trung Quốc, triều Joseon ở Triều Tiên).
- Nghiên cứu chuyên đề về tư tưởng kinh tế hoặc tư tưởng quản trị hành chính địa phương thời Nguyễn từ góc độ triết học chính trị.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các ngành Triết học (đặc biệt là chuyên ngành Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam), Lịch sử Việt Nam, Luật học, Khoa học Quản lý và Hành chính công.
- Các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách quan tâm đến kinh nghiệm lịch sử trong cải cách thể chế bộ máy nhà nước, phương thức tuyển dụng và kiểm soát quyền lực công vụ, cơ chế phòng chống tham nhũng và kỹ thuật xây dựng pháp chế.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm: Chương 1 với hệ thống điểm luận tư liệu phong phú; Chương 2 với các số liệu hành chính, quân sự và nội dung bộ Hoàng Việt luật lệ; và Chương 4 với hệ thống các bài học kinh nghiệm về quản lý quan lại và kết hợp pháp trị với đức trị.
Câu hỏi thường gặp
Khái niệm "tư tưởng trị nước" được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án xác định tư tưởng trị nước là hệ thống các quan điểm về đường lối quản lý, xây dựng, phát triển đất nước và quản lý, điều hành bộ máy nhà nước. Tác giả phân biệt rõ quan niệm này với cách hiểu hạn hẹp của một số nghiên cứu trước đó vốn đồng nhất tư tưởng trị nước với việc "trị quan".
Vua Minh Mệnh đã thực hiện cuộc cải cách hành chính địa phương ra sao?
Vào các năm 1831 - 1832, vua Minh Mệnh bãi bỏ hai tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành, tổ chức lại lãnh thổ toàn quốc thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên. Đến năm 1840, hệ thống hành chính hoàn chỉnh gồm 90 phủ, 20 phân phủ, 379 huyện, 1.742 tổng và 18.265 xã, thôn, phường, ấp. Cấp tỉnh do Tổng đốc (phụ trách 2-3 tỉnh) hoặc Tuần phủ đứng đầu, hỗ trợ bởi Bố chính sứ ti và Án sát sứ ti.
Bộ Hoàng Việt luật lệ có đặc điểm cấu trúc và nội dung ra sao?
Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) do Nguyễn Văn Thành chủ trì biên soạn, chính thức ban hành năm 1813 gồm 22 quyển với 398 điều. Bộ luật kết hợp giữa luật lệ triều Lê sơ (luật Hồng Đức) và luật nhà Thanh nhưng có điều chỉnh: bãi bỏ một số hình phạt hà khắc đối với phụ nữ mang thai hoặc tội xử tử của luật Thanh, đồng thời quy định nghiêm khắc tội phản nghịch, tham nhũng và tái lập hình phạt lưu đày làm nô tì.
Quy mô sản xuất vũ khí và quân số dưới thời Gia Long và Minh Mệnh đạt mức nào?
Thời Gia Long (1802 - 1819), triều đình đúc được 1.440 cỗ súng các loại. Năm 1825, Minh Mệnh lập thêm 6 xưởng đúc; xưởng đúc súng phường Đúc tại Huế có 8.000 thợ; xưởng đóng tàu có 8.000 người; Kinh thành Huế bố trí 404 khẩu đại bác. Thời hạn đi lính là 10 năm (đối với Nam Kỳ và từ Hà Tĩnh trở ra Bắc) hoặc 15 năm (đối với khu vực Quảng Bình đến Khánh Hòa), tuổi tối đa là 50 tuổi.
Phép quân điền ban hành năm 1804 quy định phân phối ruộng đất công như thế nào?
Quy định năm 1804 chia ruộng công làng xã theo tỷ lệ: quý tộc vương tôn được hưởng 18 phần; quan lại nhất phẩm được hưởng 15 phần; các quan lại có phẩm hàm và lính tráng nhận theo ngạch bậc; tầng lớp dân nghèo tại xã thôn nhận mức tối thiểu là 3 phần.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Thị Nguồn đã làm rõ một cách có hệ thống tư tưởng trị nước của ba vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình phân tích sâu sắc mô hình kết hợp giữa độc tôn Nho giáo (đức trị) và hoàn thiện hệ thống luật pháp (pháp trị) nhằm duy trì nhà nước quân chủ trung ương tập quyền cao độ nửa đầu thế kỷ XIX. Bằng việc phân tích các thành tựu về thống nhất lãnh thổ, cải cách hành chính cùng các hạn chế cố hữu về kinh tế và đối ngoại, luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách nền hành chính công vụ ở Việt Nam hiện nay.