Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và ý nghĩa lịch sử của nó" thuộc chuyên ngành Lịch sử Triết học (mã số nghiên cứu triết học Việt Nam). Công trình tập trung phân tích có hệ thống đường lối quản lý, tổ chức bộ máy nhà nước và điều hành xã hội của ba vị hoàng đế đầu triều Nguyễn từ giác độ triết học lịch sử.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ rõ triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945) là vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, được thiết lập sau thắng lợi trước triều đại Tây Sơn và xác lập quyền thống trị trên một lãnh thổ thống nhất hoàn chỉnh từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau. Trong giai đoạn trị vì nửa đầu thế kỷ XIX, các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đã kế thừa kinh nghiệm tổ chức mô hình nhà nước quân chủ trung ương tập quyền đỉnh cao từ triều Lê sơ, tiến hành tái độc tôn Nho giáo làm bệ đỡ hệ tư tưởng, đồng thời kết hợp phương thức đức trị với pháp trị thông qua việc ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ. Tác giả chỉ ra một khoảng trống học thuật căn bản: từ trước đến nay đã có nhiều công trình đề cập đến tư tưởng chính trị - xã hội của các vị vua đầu triều Nguyễn, nhưng tư tưởng trị nước với tư cách một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về đường lối quản lý, xây dựng đất nước và vận hành bộ máy công quyền vẫn chưa được phân tích toàn diện. Thậm chí, một số nhà nghiên cứu trước đây còn đồng nhất tư tưởng trị nước với phạm vi hẹp là "trị quan". Luận án xác định việc nghiên cứu đề tài này không chỉ bổ sung cơ sở khoa học cho lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam mà còn cung cấp kinh nghiệm lịch sử phục vụ cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng hiện nay.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những nội dung căn bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đầu triều Nguyễn, từ đó nêu lên những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của tư tưởng đó đối với việc xây dựng đường lối chính trị - xã hội nước ta hiện nay. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho sự ra đời tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
- Thứ hai, trình bày nội dung cơ bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
- Thứ ba, chỉ ra những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian và văn bản là các trước tác, văn kiện, chiếu chỉ của vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị ban hành từ năm 1802 đến năm 1847, các bộ sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, cùng các công trình nghiên cứu liên quan của các học giả trong và ngoài nước; phạm vi không gian là lãnh thổ quốc gia Việt Nam thống nhất trong nửa đầu thế kỷ XIX.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc thành ba nhóm công trình nghiên cứu chính mà tác giả đã phân tích và điểm luận:
Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX. Nhóm này ghi nhận các bộ lịch sử của Nguyễn Khánh Toàn chủ biên (Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX); Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự (1960, Lịch sử cận đại Việt Nam, tập 1); Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm (1965, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập III) với quan điểm xem chính sách của triều Nguyễn là củng cố quan hệ sản xuất cũ và kìm hãm sức sản xuất mới. Bên cạnh đó là các nghiên cứu chuyên biệt như luận án của Nguyễn Sĩ Hải (1962, "Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ: 1802 - 1847") phân tích cơ quan giám sát và tổ chức trung ương; tác phẩm của Nguyễn Thế Anh (1971, "Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn") dành toàn bộ chương V nghiên cứu thương nghiệp, chính sách thuế khóa và ngoại thương; công trình của Nguyễn Phan Quang (1971, 1999) và cộng sự Võ Xuân Đàn (1993) khảo cứu về đào tạo quan lại, tệ tham nhũng và chính sách ngoại thương; công trình so sánh của Alexander Barton Woodside (1971, "Việt Nam và hình mẫu Trung Hoa nghiên cứu so sánh về chính quyền dân sự nhà Nguyễn và nhà Thanh nửa đầu thế kỷ XIX"); nghiên cứu của Trần Văn Giàu (1996, "Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám", tập 1); Trần Thanh Tâm (1996, "Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn"); chuỗi công trình của Đỗ Bang (1996, 1997, 2007) về ngoại thương, thương nghiệp và tổ chức bộ máy nhà nước; Trần Vũ Tài (2000) về Quốc sử quán triều Nguyễn; các bài báo của Huỳnh Công Bá (2001, 2002, 2016) về pháp luật hôn nhân, địa vị người phụ nữ và định chế tố tụng; Phan Huy Lê (2003, Lịch sử Việt Nam tập II); Trần Nam Tiến (2012) về vấn đề Công giáo và quan hệ ngoại giao với phương Tây; Lê Thị Lan (2015) về đặc trưng triết học; bộ sách 15 tập của Trần Đức Cường tổng chủ biên (2017, tập 5) và Nguyễn Thanh Bình (2018) về đạo đức Nho giáo.
Nhóm thứ hai là các công trình trực tiếp phân tích tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị. Tiêu biểu có công trình của Nguyễn Minh Tường (1996, "Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh" và bài báo năm 2007); Lê Sỹ Thắng chủ biên (1997, "Lịch sử tư tưởng Việt Nam", tập II); Nguyễn Tài Thư (1997, "Nho học và Nho học ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn"); Bùi Huy Khiên (2011, nghiên cứu bài học cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông và Minh Mệnh); Nguyễn Hoài Văn (2002) về tư tưởng chính trị Nho giáo; Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Cơ, Phan Ngọc Liễn (2011, "Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới"); Doãn Chính chủ biên (2013, "Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX"); Nguyễn Tài Đông chủ biên (2016, "Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam"); Phan Quốc Khánh (2004) về tư tưởng trị nước của Minh Mệnh; Phan Thị Thu Hằng (2012) tổng quan tình hình nghiên cứu tư tưởng Minh Mệnh; Nguyễn Công Việt (2013) nghiên cứu cải cách cơ quan trung ương thời Nguyễn qua ấn chương; và các bài báo của Lê Thị Lan (2015, 2016) phân tích tư tưởng đạo đức của Minh Mệnh cùng tư tưởng trị nước của vua Gia Long.
Nhóm thứ ba tập trung vào việc đánh giá giá trị và hạn chế của tư tưởng Nho giáo và pháp chế triều Nguyễn, thể hiện qua tác phẩm của Trần Trọng Kim (những năm 1930, "Nho giáo"); Quang Đạm ("Nho giáo xưa và nay"); Lê Sỹ Thắng ("Nho giáo tại Việt Nam"); kỷ yếu hội thảo năm 2008 tại Thanh Hóa về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn; bài viết của Đỗ Bang (2007) về chế tài điều tiết cực quyền; và công trình của Trần Việt Thắng (2014) về sự tái độc tôn Nho giáo.
Luận án chỉ ra hai khuynh hướng đánh giá đối lập trong lịch sử học thuật:
- Khuynh hướng thứ nhất mang tính phủ nhận toàn bộ đóng góp của vương triều, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử khi nhà Nguyễn để mất nước vào tay thực dân Pháp, đưa ra những đánh giá quy kết nặng nề như triều đại "phản động toàn diện" hay hành vi "cõng rắn cắn gà nhà".
- Khuynh hướng thứ hai phát triển mạnh từ sau hội thảo khoa học năm 2008, tiếp cận khách quan dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, công nhận công lao thống nhất lãnh thổ, xác lập chủ quyền biên cương, hải đảo và xây dựng nền hành chính hoàn bị, đồng thời phân tích những sai lầm bắt nguồn từ giới hạn ý thức hệ phong kiến ("nội Hạ ngoại Di", "trọng nông ức thương", "tôn quân quyền").
Vị trí của luận án được xác lập trên khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào khảo cứu một cách toàn diện, hệ thống về tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều Nguyễn dưới lăng kính triết học, làm rõ sự thống nhất giữa đường lối chính trị, kinh tế, quân sự, pháp luật và văn hóa tư tưởng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trên nền tảng cơ sở lý luận triết học mác-xít và đường lối chính trị hiện đại:
- Quan niệm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, trọng tâm là quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội thể hiện qua sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội và sự tương tác qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội (chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo).
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa "của dân, do dân, vì dân", làm thước đo đánh giá giá trị tiến bộ và hạn chế lịch sử trong mô hình quản lý của nhà Nguyễn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế thuộc hướng nghiên cứu định tính của chuyên ngành lịch sử triết học, bao gồm:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: mổ xẻ các văn bản chiếu dụ, điều luật, sử liệu và tổng hợp thành các nội hàm tư tưởng trị nước.
- Phương pháp lôgíc - lịch sử: xem xét sự hình thành và biến chuyển của các chủ trương trị quốc gắn liền với từng giai đoạn lịch sử cụ thể từ triều Gia Long, qua Minh Mệnh đến Thiệu Trị.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: đối chiếu giữa lý luận Nho gia, Pháp gia với thực tiễn áp dụng của triều Nguyễn, so sánh mô hình triều Nguyễn với triều Lê sơ và nhà Thanh.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu bao gồm:
- Các văn bản chính thống của các vị vua đầu triều Nguyễn ban hành từ năm 1802 đến năm 1847.
- Bộ luật Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) ban hành năm 1813.
- Các bộ sử liệu cổ điển do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, tiêu biểu như Đại Nam thực lục, Quốc sử di biên, Lịch triều hiến chương loại chí.
- Các công trình chuyên khảo, luận án, bài báo khoa học và kỷ yếu hội thảo chuyên ngành trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 4 chương chính với 13 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn bộ các tài liệu học thuật liên quan đến đề tài theo ba cụm nội dung: bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nửa đầu thế kỷ XIX; tư tưởng trị nước của các vị hoàng đế Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị; cùng những đánh giá về giá trị và hạn chế lịch sử. Tác giả tổng kết hai xu hướng nhận định trái chiều trong giới nghiên cứu, từ đó xác lập tính cấp thiết của việc áp dụng quan điểm duy vật lịch sử nhằm nghiên cứu toàn diện, khách quan tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều Nguyễn, xác định ba hướng giải quyết chính của luận án.
Chương 2: Bối cảnh lịch sử của Việt Nam đầu thế kỷ XIX và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng trị nước của các vua đầu triều Nguyễn
Chương 2 phân tích toàn diện hiện trạng lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX trên các phương diện:
Về chính trị và tổ chức hành chính: Sau năm 1802, vua Gia Long đặt quốc đô tại Phú Xuân. Để thích ứng với tình hình sau nội chiến, vua Gia Long thành lập Bắc Thành (quản lý 11 trấn Bắc Bộ do Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn) và Gia Định Thành (quản lý 5 trấn Nam Bộ, do Nguyễn Văn Nhân quản lý từ 1808 - 1812 và Lê Văn Duyệt quản lý từ 1812 - 1816). Trong các năm 1831 - 1832, vua Minh Mệnh tiến hành cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, bãi bỏ hai tổng trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên. Đứng đầu liên tỉnh là Tổng đốc (phụ trách 2 đến 3 tỉnh), đứng đầu tỉnh là Tuần phủ; giúp việc có Bố chính sứ ti (phụ trách tài chính, hành chính) và Án sát sứ ti (phụ trách tư pháp), cùng chức Lãnh binh phụ trách quân sự. Đến năm 1840, cả nước được thống kê có 90 phủ, 20 phân phủ, 379 huyện, 1742 tổng và 18265 xã, thôn, phường, ấp.
| Cấp hành chính / Cơ quan |
Số lượng / Cơ cấu cụ thể theo thống kê năm 1840 |
Chức năng / Người đứng đầu |
| Phủ |
90 phủ chính thức và 20 phân phủ |
Đơn vị hành chính trung gian trên huyện |
| Huyện |
379 huyện |
Đơn vị hành chính quản lý cơ sở |
| Tổng |
1.742 tổng |
Cấp trung gian giữa huyện và xã |
| Xã, thôn, phường, ấp |
18.265 đơn vị cơ sở |
Đơn vị hành chính cơ sở trực tiếp quản lý dân cư |
| Cơ quan trung ương tối cao |
6 Bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công |
Điều hành các công việc hành chính nhà nước |
| Cơ quan tư vấn đặc biệt |
Nội các (thành lập 1829), Cơ mật viện (1834) |
Soạn thảo văn thư và xử lý quân quốc trọng sự |
| Cơ quan giám sát |
Đô sát viện (Ngự sử đài gồm 6 khoa) |
Thanh tra, giám sát hệ thống quan lại các cấp |
Về quy chế quyền lực, triều Nguyễn thực thi quy định "Tứ bất" nhằm tập trung quyền lực tuyệt đối vào nhà vua: không đặt tể tướng, không phong hoàng hậu, không lấy trạng nguyên trong thi cử và không phong tước vương cho người ngoài hoàng tộc. Tại vùng thượng du, năm 1829 nhà nước bãi bỏ lệ thế tập của thổ ti, cử quan lại tuyển chọn người cai quản nhằm nhất thể hóa hành chính.
Về pháp luật: Năm 1813, triều đình ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ gồm cả luật và lệ. Bộ luật đưa ra các chế tài xử lý nghiêm khắc đối với tội phản quốc và tội tham nhũng của quan chức, đồng thời áp dụng luật Hồi tỵ và chế độ khảo hạch, sát hạch quan lại định kỳ.
Về quân sự: Lực lượng quân đội được phân định thành Thân binh (bảo vệ nhà vua), Cấm binh (phòng thủ hoàng thành), Tinh binh/biền binh (đóng tại kinh đô và địa phương) và Thuộc binh. Thời hạn binh dịch được ấn định là 10 năm đối với binh lính thuộc Nam Kỳ và từ Hà Tĩnh trở ra Bắc; 15 năm đối với binh lính từ Quảng Bình đến Khánh Hòa; tuổi giải ngũ tối đa là 50 tuổi. Dưới thời Gia Long (1802 - 1819), xưởng quân khí đã đúc 1.440 cỗ súng các loại mang các danh hiệu như Thần uy vô địch, Chấn uy Đại tướng quân, Thảo nghịch, Bình ngụy, Vũ uy, Hùng uy, Thắng uy, Đằng uy, Phá địch. Năm 1825, Minh Mệnh thành lập thêm 6 xưởng đúc; xưởng đúc phường Đúc ở Huế có 8.000 thợ, xưởng đóng tàu có 8.000 công nhân; riêng Kinh thành Huế được trang bị 404 khẩu đại bác. Vua Minh Mệnh cũng là người đầu tiên cho diễn tập phối hợp tác chiến giữa bộ binh và thủy binh, tổ chức thi võ để tuyển bổ phẩm quan và Hành tẩu nha Túc vệ. Tuy nhiên, về sau do ngân sách suy giảm, việc trang bị sút kém nghiêm trọng: cứ 50 lính bộ binh mới có 5 người có súng, mỗi năm chỉ tập bắn một lần với định mức 6 phát đạn.
Về ngoại giao: Triều Nguyễn duy trì chính sách thần phục nhà Thanh; tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long cử Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ cùng Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn làm Phó sứ sang Quảng Đông xin cầu phong; năm 1804 sứ Thanh sang làm lễ tuyên phong tại điện Kính Thiên; định kỳ 4 năm cử sứ bộ triều cống một lần. Đối với các nước phương Tây, triều đình thực thi chính sách "bế quan tỏa cảng", không thành lập bộ ngoại giao chuyên trách mà giao cho bộ Lễ phụ trách. Gia Long duy trì quan hệ cá nhân hòa hoãn với Pháp do biết ơn giám mục Bá Đa Lộc nhưng khước từ thiết lập quan hệ chính thức với Anh, Mỹ, Tây Ban Nha. Đến triều Minh Mệnh, nhà vua từ chối mọi đề nghị bang giao của phương Tây và ban hành 5 chỉ dụ cấm đạo gay gắt.
Về kinh tế: Nền kinh tế lấy nông nghiệp làm gốc. Năm 1804, vua Gia Long ban hành phép quân điền, chia ruộng đất công làng xã theo định mức:
| Đối tượng thụ hưởng ruộng công |
Định mức phân chia theo phép quân điền (năm 1804) |
| Quý tộc, vương tôn |
18 phần |
| Quan lại nhất phẩm |
15 phần |
| Dân nghèo |
3 phần |
Chính sách quân điền được Minh Mệnh tái khẳng định năm 1831, và đến năm 1839 nhà vua cho phép chia ruộng công cho người về hưu, đồng thời thu hồi một phần ruộng tư tại các địa phương để cấp cho dân nghèo. Triều đình đẩy mạnh khai hoang qua hình thức đồn điền và doanh điền (khởi xướng từ năm 1828 gắn với Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương), lập thêm nhiều huyện mới. Về thủy lợi, Minh Mệnh ban hành chỉ dụ trị thủy năm 1833. Trong công thương nghiệp, nhà nước giữ độc quyền các ngành then chốt (khai mỏ, đúc tiền, chế tạo vũ khí). Năm 1803, Gia Long thành lập Bắc Thành tiền cục; năm 1812 cho đúc tiền kẽm. Năm 1834, Minh Mệnh cho chế tạo xe "Thủy hỏa kí tế" và thử nghiệm tàu máy chạy hơi nước. Năm 1816, ban hành luật thuế vận tải quy định thuyền buôn tư nhân phải nộp thuế, thuyền chở hàng cho nhà nước được miễn thuế. Năm 1824, cử quan chức mang hàng hóa sang công cán buôn bán tại Xiêm, Java, Mã Lai nhưng áp dụng chính sách "trọng nông ức thương", ngăn cấm dân họp chợ và kiểm soát nghiêm ngặt nội thương.
Về văn hóa, tư tưởng và xã hội: Triều đình thực hiện chính sách tái độc tôn Nho giáo, ban hành "10 điều huấn dụ", chấn chỉnh khoa cử (mở khoa thi Hương đầu tiên năm 1807, khoa thi Hội đầu tiên năm 1822; thời Minh Mệnh cho dạy thêm tiếng nước ngoài). Năm 1820, vua Minh Mệnh thành lập Quốc sử quán để biên soạn các bộ sử lớn như Đại Nam thực lục, Quốc sử di biên. Về tôn giáo, triều đình đàn áp đạo Công giáo và hạn chế xây dựng chùa chiền Phật giáo. Cơ cấu xã hội phân hóa sâu sắc thành giai cấp thống trị (vua, quan, địa chủ, nha lại) và giai cấp bị trị (nông dân, thợ thủ công, thương nhân, dân nghèo), tạo nên những mâu thuẫn giai cấp gay gắt.
Chương 3: Những nội dung tư tưởng trị nước cơ bản của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị
Chương 3 trình bày các luận điểm cốt lõi cấu thành tư tưởng trị nước của ba vị vua đầu triều Nguyễn:
- Luận điểm về xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền cao độ: khẳng định quyền lực tuyệt đối của hoàng đế thông qua chế định "Tứ bất", tinh gọn các đơn vị hành chính trung gian, xóa bỏ tình trạng cát cứ của các tổng trấn để quản lý trực tiếp tới cấp tỉnh, huyện, xã.
- Luận điểm kết hợp giữa "đức trị" và "pháp trị": sử dụng Nho giáo làm nền tảng đạo đức xã hội và hệ tư tưởng dẫn dắt, đồng thời dùng pháp luật nghiêm minh (Hoàng Việt luật lệ) làm công cụ điều hành xã hội. Tác giả phân tích tư tưởng trị nước của Minh Mệnh tuy lấy Nho giáo làm gốc nhưng không câu nệ giáo điều mà vận dụng yếu tố thực tế của Pháp gia để siết chặt kỷ cương phép nước.
- Đường lối quản lý kinh tế: lấy nông nghiệp làm trọng tâm, sử dụng công cụ pháp lý để bảo vệ ruộng đất công, tổ chức khai hoang quy mô lớn thông qua hình thức doanh điền và đồn điền nhằm ổn định đời sống nhân dân và tạo nguồn thu thuế cho quốc gia.
- Đường lối văn hóa, giáo dục và quân sự: chấn hưng khoa cử nhằm tuyển chọn nhân tài cho bộ máy cai trị, dùng Quốc sử quán biên soạn lịch sử phục vụ tính chính thống của vương triều, xây dựng lực lượng quân đội quy củ, kết hợp giữa lục quân và thủy quân nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Chương 4: Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử từ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đối với đời sống chính trị - xã hội nước ta hiện nay
Chương 4 đánh giá khách quan hai mặt của tư tưởng trị nước:
- Giá trị lịch sử: Khẳng định công lao to lớn trong việc thống nhất lãnh thổ quốc gia trên thực tế; xây dựng được một hệ thống hành chính hoàn chỉnh, thống nhất từ trung ương đến địa phương; xây dựng được bộ máy quản lý gọn nhẹ và hệ thống pháp luật quy củ; thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng thông qua Đô sát viện, luật Hồi tỵ và chế độ khảo hạch quan lại; chính sách khai hoang mở rộng diện tích canh tác mang lại hiệu quả thiết thực.
- Hạn chế lịch sử: Sự chuyên chế tập quyền cực đoan ("tôn quân quyền") làm triệt tiêu tính chủ động sáng tạo của xã hội; sự bảo thủ về mặt ý thức hệ Nho giáo dẫn tới quan niệm "nội Hạ ngoại Di", thi hành chính sách "bế quan tỏa cảng", cấm đạo và bức hại tôn giáo gay gắt; chính sách kinh tế "trọng nông ức thương", ngăn cấm giao thương và kìm hãm sự phát triển của kinh tế hàng hóa; tư duy quân sự và kỹ thuật chậm đổi mới khiến triều đình rơi vào thế bất lực khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược.
- Bài học lịch sử: Luận án đúc kết các bài học về xây dựng bộ máy hành chính công quyền kỷ cương, liêm chính; cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý tham nhũng; bài học về việc kết hợp giữa giáo dục đạo đức công vụ với thực thi nghiêm minh pháp luật trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền hiện nay.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định ba đóng góp mới về mặt khoa học:
- Một là, luận án làm rõ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị trong nửa đầu thế kỷ XIX với sự phân tích triết học về cách thức tổ chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện luật pháp vì mục tiêu căn bản được xác định ngay từ đầu triều đại là nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.
- Hai là, làm rõ những giá trị, hạn chế của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị trong quản lý, điều hành trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và tôn giáo.
- Ba là, luận án rút ra bài học lịch sử từ những giá trị và hạn chế trong tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn đối với đời sống chính trị - xã hội nước ta hiện nay.
Về mặt kiến nghị và giải pháp, từ kết quả nghiên cứu lịch sử tư tưởng trị nước, tác giả đề xuất:
- Cần kế thừa có chọn lọc các chế định quản lý công quyền tiến bộ của tiền nhân, đặc biệt là các quy định khảo hạch, sát hạch quan lại định kỳ và luật Hồi tỵ nhằm ngăn chặn tình trạng cục bộ địa phương, bè phái và xung đột lợi ích trong bộ máy quản lý.
- Tham khảo kinh nghiệm lịch sử trong việc kết hợp linh hoạt giữa biện pháp giáo dục đạo đức chính trị với việc thượng tôn pháp luật để phục vụ cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng và cải cách nền hành chính công hiện nay.
- Vận dụng bài học lịch sử vào việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa "của dân, do dân, vì dân" dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tránh lặp lại các sai lầm lịch sử về duy ý chí, bảo thủ và khép kín đối ngoại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu bị giới hạn trong nửa đầu thế kỷ XIX (từ năm 1802 đến năm 1847) qua ba triều vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, chưa khảo cứu giai đoạn lịch sử thoái trào và biến động phức tạp dưới triều Tự Đức cùng các triều vua sau thời kỳ Pháp xâm lược.
- Luận án tiếp cận chủ yếu dưới góc độ lịch sử tư tưởng triết học và sử học, chưa có điều kiện khảo sát liên ngành chuyên sâu dưới giác độ xã hội học chính trị hay kinh tế học thể chế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang nửa sau thế kỷ XIX để đánh giá sự biến đổi và suy thoái của tư tưởng trị nước triều Nguyễn trong bối cảnh thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam.
- Khảo sát so sánh sâu hơn giữa tư tưởng trị nước của các vua đầu triều Nguyễn với mô hình trị quốc của triều Thanh (Trung Quốc) hoặc các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á cùng thời kỳ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Lịch sử triết học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam và Lịch sử nhà nước và pháp luật.
- Các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách trong lĩnh vực cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng thể chế công vụ và phòng chống tham nhũng.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên biệt bao gồm: hệ thống tư liệu về cải cách tổ chức hành chính năm 1831 - 1832 của vua Minh Mệnh; các điều khoản pháp lý và định chế giám sát quan chức trong bộ Hoàng Việt luật lệ; cơ chế thực thi quy định "Tứ bất" và luật Hồi tỵ thời phong kiến.
Câu hỏi thường gặp
-
Vua Minh Mệnh đã thực hiện cuộc cải cách hành chính trong các năm 1831 - 1832 như thế nào để nhất thể hóa bộ máy nhà nước?
Trong hai năm 1831 - 1832, vua Minh Mệnh đã xóa bỏ hai cấp trung gian là Tổng trấn Bắc Thành và Tổng trấn Gia Định Thành, tiến hành chia toàn bộ lãnh thổ quốc gia thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên. Đứng đầu liên tỉnh là Tổng đốc, đứng đầu tỉnh là Tuần phủ, bên dưới có Bố chính sứ ti phụ trách tài chính - hành chính, Án sát sứ ti phụ trách tư pháp và chức Lãnh binh chỉ huy quân sự. Cách phân chia này đã nhất thể hóa hệ thống hành chính từ trung ương tới địa phương và được duy trì cho đến cuối thời kỳ phong kiến.
-
Quy chế "Tứ bất" dưới triều Nguyễn gồm những điều cấm cụ thể nào và nhằm mục đích gì?
Quy chế "Tứ bất" là tập tục chính trị bất thành văn được triều đình nhà Nguyễn thi hành triệt để, bao gồm: không lập chức tể tướng, không phong tước hoàng hậu, không lấy người đỗ trạng nguyên trong các khoa thi, và không phong tước vương cho người ngoài hoàng tộc. Mục đích của quy chế này là ngăn ngừa quyền thần thao túng, tránh việc ngoại thích lũng đoạn triều đình và tập trung tuyệt đối quyền lực tối cao vào tay nhà vua.
-
Chính sách phân chia ruộng đất công (phép quân điền) năm 1804 được quy định ra sao?
Theo phép quân điền do vua Gia Long ban hành năm 1804, toàn bộ ruộng đất công tại các làng xã được chia theo định mức phẩm trật và thân phận xã hội: quý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại nhất phẩm được cấp 15 phần, và tầng lớp dân nghèo được cấp 3 phần. Đến năm 1839, vua Minh Mệnh bổ sung quy định chia ruộng công cho quan viên đã về hưu và tiến hành thu hồi một phần ruộng tư của hào phú để phân phối lại cho dân nghèo.
-
Quy mô chế tạo vũ khí và trang bị quân sự dưới thời vua Gia Long và Minh Mệnh đạt mức độ nào?
Dưới triều Gia Long (1802 - 1819), các xưởng vũ khí đã đúc được 1.440 cỗ súng các loại với nhiều danh hiệu đại tướng quân. Đến triều Minh Mệnh, nhà vua cho lập thêm 6 xưởng đúc lớn vào năm 1825; trong đó xưởng đúc súng tại phường Đúc (Huế) tập trung 8.000 thợ và xưởng đóng tàu có 8.000 người làm việc. Riêng khu vực phòng thủ Kinh thành Huế được triều đình trang bị tới 404 khẩu đại bác. Năm 1834, nhà vua còn cho nghiên cứu chế tạo thành công xe "Thủy hỏa kí tế" và thử nghiệm tàu máy chạy hơi nước.
-
Chính sách ngoại giao của triều đình nhà Nguyễn đối với các nước phương Tây được thực thi theo phương châm nào?
Triều Nguyễn thực thi chính sách ngoại giao khép kín, "bế quan tỏa cảng" và không thiết lập quan hệ bang giao chính thức với bất kỳ quốc gia phương Tây nào, đồng thời không thành lập cơ quan ngoại giao riêng mà giao toàn bộ công việc đối ngoại cho bộ Lễ. Mặc dù vua Gia Long có quan hệ cá nhân hòa hoãn với người Pháp để đền đáp sự giúp đỡ của giám mục Bá Đa Lộc, nhưng sang thời Minh Mệnh, triều đình đã kiên quyết cự tuyệt mọi đề nghị thông thương của Pháp, Anh, Mỹ và ban hành 5 chỉ dụ cấm đạo Công giáo gay gắt.
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống về tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị dưới giác độ lịch sử triết học dựa trên quan điểm duy vật lịch sử mác-xít. Luận án đã làm rõ sự kết hợp giữa mô hình quân chủ trung ương tập quyền Nho giáo với tư tưởng pháp trị trong tổ chức bộ máy nhà nước và quản lý xã hội nửa đầu thế kỷ XIX. Bên cạnh việc ghi nhận những thành tựu lịch sử về thống nhất bờ cõi, cải cách hành chính và xác lập kỷ cương luật pháp, công trình đã chỉ ra những giới hạn ý thức hệ sâu sắc của chế độ phong kiến khiến triều Nguyễn suy yếu trước họa xâm lăng phương Tây. Những kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp các bài học lịch sử có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.