Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Phong trào công nhân ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011"
Chuyên ngành: Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc
Loại hình công trình: Luận án Tiến sĩ Lịch sử

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp và khó lường. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (CMKHCN), xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức đã thúc đẩy lực lượng sản xuất biến đổi sâu sắc cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Tại khu vực Tây Âu – nơi khởi phát và là cái nôi của phong trào công nhân (PTCN) và tổ chức công đoàn thế giới – phương thức sản xuất của các nước tư bản phát triển đã có những điều chỉnh căn bản, tác động trực tiếp đến cơ cấu, số lượng, chất lượng và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân (GCCN).

Đặc biệt, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đã đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thời kỳ khủng hoảng, thoái trào nghiêm trọng. Các học giả tư sản và các phần tử cơ hội gia tăng công kích, phủ nhận vai trò và sứ mệnh lịch sử của GCCN. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định việc kiên định chủ nghĩa quốc tế của GCCN, duy trì và phát triển quan hệ với các đảng cộng sản (ĐCS) ở Tây Âu là nhiệm vụ quan trọng; đồng thời việc nghiên cứu những biến động của GCCN Tây Âu là cơ sở thực tiễn để kiểm chứng và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X (Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008) về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là trong suốt hai thập niên sau Chiến tranh lạnh, các công trình trong và ngoài nước chủ yếu tiếp cận vấn đề ở từng khía cạnh rời rạc, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về PTCN Tây Âu giai đoạn 1991–2011 với tư cách một luận án tiến sĩ lịch sử độc lập.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Luận án làm rõ thực trạng PTCN ở các nước Tây Âu (tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức) từ năm 1991 đến năm 2011; qua đó đưa ra nhận xét, đánh giá về phong trào và rút ra một số vấn đề đối với việc xây dựng GCCN Việt Nam hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến PTCN ở các nước Tây Âu (tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức) từ năm 1991 đến năm 2011.
    2. Phân tích thực trạng của PTCN ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011.
    3. Nhận xét và đánh giá về PTCN các nước Tây Âu thời kỳ sau Chiến tranh lạnh và một số vấn đề rút ra đối với việc xây dựng GCCN Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phong trào công nhân ở 3 nước Tây Âu: Anh, Pháp, Đức.
  • Phạm vi nội dung: Thực trạng PTCN qua sự biến động về cơ cấu, số lượng và chất lượng GCCN trong điều kiện kinh tế tri thức và toàn cầu hóa; sự điều chỉnh về mục tiêu, nội dung, hình thức tập hợp lực lượng và phương pháp đấu tranh của PTCN.
  • Phạm vi không gian: Các nước tư bản phát triển nhất ở Tây Âu, tập trung vào Đức, Pháp và Anh.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 (thời điểm Chiến tranh lạnh kết thúc và Liên Xô tan rã) đến năm 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan theo 2 nhóm chính:

Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài

  1. Nghiên cứu về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước và sau năm 1991: Bộ sách 7 tập "Phong trào công nhân quốc tế: Những vấn đề lịch sử và lý luận" do Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô B.N. Pônômariôp làm chủ tịch Hội đồng biên tập; các bài viết nghiên cứu về sự chuyển biến của ĐCS như bài "Sự chuyển biến mang tính lịch sử về hình thái tổ chức của đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa" của Nhiếp Văn Lân; các công trình phân tích triển vọng của chủ nghĩa xã hội (CNXH) của Tiêu Phong ("Tình hình và xu thế phát triển của phong trào cộng sản thế giới", "Hai chủ nghĩa một trăm năm"), Bạch Âu, Tiết Tân Quốc; cùng các tham luận của lãnh đạo ĐCS châu Âu như Cunhan Anvanrô (ĐCS Bồ Đào Nha), A. Papariga và Đimitri Gônđicac (ĐCS Hy Lạp), Jose Manuel Mariscal (ĐCS Tây Ban Nha), Rôbe Uy (ĐCS Pháp), Aurelio Santos.
  2. Nghiên cứu về cơ cấu giai cấp, số lượng, chất lượng và sứ mệnh của GCCN: Báo cáo "Tiến tới xã hội thông tin, cơ cấu việc làm của các nước G7" (1995) của Castells M. và Yoko Ao Yama (chuyên gia Ngân hàng Thế giới); bài viết "Toàn cầu hóa với giai cấp công nhân" (1999) của Lacôn; "Chủ nghĩa tư bản trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI" của Kapuctin; "Triển vọng phát triển của giai cấp công nhân ở thế kỷ XXI" (2003) của Victor Trushkov; bài viết của An Viễn Triệu, Maicơnhepsi, Tedgrant và Robsewell, Paul Collier, Tào Á Hùng và Trương Phượng Quyên, M.D Yates, G. Skorov, Manuel Lopez, A. Xakhanin, Michel Parenty, Tạp chí The Economist, Cố Hân và Phạm Dậu Khánh, Aleksei Xakhnin.

Các công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam

  1. Nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản hiện đại và các nhân tố tác động: Các công trình của Đỗ Lộc Diệp ("Mỹ - Nhật - Tây Âu đặc điểm kinh tế so sánh", "Chủ nghĩa tư bản ngày nay: Tự điều chỉnh kinh tế"); tập bài giảng Quan hệ quốc tế của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh do Nguyễn Hoàng Giáp và Nguyễn Thị Quế chủ biên; các nghiên cứu của Bùi Ngọc Chưởng, Hồ Văn Thông, Hữu Khánh.
  2. Nghiên cứu chuyên đề về PTCS và công nhân ở Tây Âu: Các đề tài khoa học cấp bộ và chuyên đề của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; luận án của Nguyễn Thế Lực, luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Lan ("Phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển từ cuối thập kỷ 80 đến nay"); các bài viết của Đào Duy Quát, Lưu Văn An, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Thanh Vân, Phạm Hữu Tiến, Thái Hữu Tuấn, Cao Đức Thái, Lệ Thuý.
  3. Nghiên cứu về sứ mệnh lịch sử của GCCN và đề tài cấp bộ năm 2009: Đề tài cấp bộ "Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến tranh lạnh đến nay: Thực trạng và triển vọng" do Nguyễn Thị Quế làm chủ nhiệm; các bài viết khẳng định lập trường Mác-Lênin của Hồ Bá Thâm, Nhị Lê, Trương Bảo Ngọc, Mạnh Học Thông.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trên đã tiếp cận PTCN và GCCN ở nhiều giác độ, song chưa có công trình nào phân tích mang tính hệ thống, chuyên sâu và cập nhật toàn diện về PTCN tại 3 nước trọng điểm Tây Âu (Anh, Pháp, Đức) trong suốt chặng đường 20 năm (1991–2011). Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên đi sâu giải quyết đối tượng nghiên cứu độc lập này ở cấp độ một luận án tiến sĩ lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và hệ thống khái niệm

  • Hệ thống quan điểm Mác - Lênin: Sử dụng các luận điểm kinh điển trong "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản", "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, cùng các tác phẩm của V.I. Lênin về định nghĩa giai cấp, nguồn gốc ra đời gắn với nền đại công nghiệp, đặc trưng không có tư liệu sản xuất (TLSX) phải bán sức lao động, tính chất tiên phong, tính quốc tế và sứ mệnh lịch sử của GCCN qua 3 nội dung: tổ chức sản xuất hiện đại; lãnh đạo giành chính quyền; củng cố chính quyền và xây dựng xã hội mới.
  • Định nghĩa chuẩn mực: Luận án tiếp thu định nghĩa trong Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia và định nghĩa của các công trình chuyên ngành: GCCN là tập đoàn xã hội ổn định, đại biểu cho lực lượng sản xuất (LLSX) tiên tiến, là lực lượng chủ yếu của tiến trình quá độ lên CNXH.
  • Tiếp cận khái niệm hiện đại: Phân định rõ 4 thuật ngữ người lao động (worker/ouvrier, employee/employé, wage-earner/salarié, worker/travailleur) và khái niệm "giới lao động" (working world/le monde du travail); phân tích bản chất các hiện tượng "công nhân cổ trắng", "công nhân cổ xanh", "công nhân tri thức" (knowledge workers), bác bỏ luận điểm tư sản cho rằng GCCN biến mất hoặc chuyển hóa thành "giai cấp trung sản".
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng từ khóa VI đến khóa XI, Nghị quyết 01/NQ của Bộ Chính trị (28/3/1992) và Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận sử học mácxít.
  • Phương pháp chuyên ngành và liên ngành: Sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ đạo; kết hợp chặt chẽ với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh lịch sử, thống kê xã hội học và hệ thống hóa tư liệu.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện, nghị quyết, tuyên bố chính thức của các ĐCS ở Tây Âu (ĐCS Anh, ĐCS Pháp, ĐCS Đức, PDS Đức, ĐCS Hy Lạp, ĐCS Bồ Đào Nha...) công bố từ năm 1991 đến 2011 (khai thác trực tiếp từ website chính thức của các đảng bằng nhiều ngôn ngữ).
  • Số liệu thống kê, báo cáo của các tổ chức quốc tế: Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
  • Tài liệu từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Viện Quan hệ quốc tế, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Bản tin Tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, báo Nhân Dân, báo Quân đội nhân dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đề tài

Chương 1 tiến hành phân tích, phân loại toàn diện các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước trước và sau năm 1991 liên quan đến phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và GCCN các nước tư bản phát triển. Trên cơ sở chỉ ra những kết quả đã đạt được và những điểm còn bỏ ngỏ, chương này xác định 5 nội dung trọng tâm luận án tiếp tục đi sâu giải quyết:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan niệm của học giả quốc tế về GCCN hiện đại.
  2. Làm rõ hệ thống nhân tố tác động: truyền thống lịch sử trước năm 1990; bối cảnh quốc tế (sụp đổ của Liên Xô/Đông Âu, CMKHCN, toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, sự điều chỉnh của giai cấp tư sản); bối cảnh khu vực Liên minh châu Âu (EU) và tác động của các phong trào chính trị - xã hội.
  3. Làm rõ thực trạng PTCN ở Anh, Pháp, Đức giai đoạn 1991–2011 về cơ cấu, số lượng, chất lượng GCCN và các hình thức vận động của phong trào.
  4. Đưa ra nhận xét, đánh giá khách quan về thành tựu, hạn chế, triển vọng của PTCN Tây Âu và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  5. Khái quát hóa các kết luận khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn.

Chương 2: Những nhân tố chủ yếu tác động đến phong trào công nhân ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011

Chương 2 trình bày cơ sở lý luận mácxít về GCCN và phân tích 4 nhóm nhân tố quyết định diện mạo PTCN Tây Âu sau Chiến tranh lạnh:

  • Truyền thống lịch sử: Kế thừa truyền thống sáng tạo lý luận và tinh thần đấu tranh kiên định từ các cuộc khởi nghĩa Liông (Pháp), Xilêzi (Đức), phong trào Hiến chương (Anh), cao trào 1848–1849, Công xã Pari 1871, giai đoạn 1918–1923, phong trào chống phát xít và cao trào bãi công thời kỳ Chiến tranh lạnh (giai đoạn 1945–1980, số người làm thuê tăng 1,5–2 lần nhưng số cuộc bãi công tăng 3,5 lần).
  • Tình hình thế giới: Cục diện sau khi Liên Xô tan rã; CMKHCN chuyển dịch cơ cấu việc làm; xu thế toàn cầu hóa tạo ra "người công nhân tổng thể toàn thế giới" của các công ty đa quốc gia (TNCs), làm gia tăng luân chuyển nhân lực (thống kê IMF năm 1998 ghi nhận 12,9 triệu người có học thức di cư từ các nước đang phát triển sang OECD, trong đó 5,9 triệu người sang châu Âu), đồng thời thúc đẩy dịch chuyển sản xuất dẫn tới cạnh tranh việc làm và tư tưởng bài ngoại; sự phát triển kinh tế tri thức làm xuất hiện "công nhân tri thức"; các điều chỉnh của giai cấp tư sản (chế độ tham dự, chế độ ủy nhiệm, chính sách cho tập thể lao động sở hữu 10% TLSX, chi trả phúc lợi nhằm tư sản hóa một bộ phận công nhân thành "công nhân quý tộc", làm tăng tính "phường hội chủ nghĩa").
  • Bối cảnh khu vực Liên minh châu Âu (EU): Quá trình nhất thể hóa tạo ra kiểu nhà nước xuyên quốc gia khiến ĐCS và công đoàn lúng túng do quy mô tổ chức vẫn mang tính quốc gia; sự hình thành Đảng đoàn Cánh tả Thống nhất châu Âu/Cánh tả Xanh Bắc Âu (GUE/NGL) trong Nghị viện châu Âu; các hệ lụy xã hội của EU (theo cựu Chủ tịch EU G. Santơ, toàn khối có 18 triệu người thất nghiệp và 52 triệu người nghèo); sự trỗi dậy của các lực lượng cực hữu (như Đảng Tự do ở Áo tham gia chính phủ năm 2000, Mặt trận Quốc gia của Lơ Pen ở Pháp) và kế hoạch mở rộng NATO sang phía Đông.
  • Các phong trào chính trị - xã hội: Sự khủng hoảng, phân hóa tư tưởng trong các ĐCS Tây Âu (tiêu biểu là nội bộ ĐCS Đức phân hóa giữa nhóm cựu trào và nhóm cách tân; Đảng PDS chuyển hướng xã hội - dân chủ); tác động từ các đảng xã hội - dân chủ và phong trào chống mặt trái toàn cầu hóa.

Chương 3: Thực trạng phong trào công nhân ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011

Chương 3 là phần thực chứng trung tâm của luận án, được chia thành 2 tiết lớn với hệ thống dữ liệu, thống kê phản ánh toàn diện diện mạo GCCN và PTCN Tây Âu:

  • Tiết 3.1: Sự biến động về cơ cấu, số lượng và chất lượng giai cấp công nhân ở các nước Tây Âu: Phân tích sự chuyển dịch mạnh mẽ từ khu vực công nghiệp truyền thống sang khu vực dịch vụ và các ngành công nghệ cao; sự gia tăng của "công nhân cổ trắng" và "công nhân tri thức", giảm tỷ trọng "công nhân cổ xanh"; sự phân hóa thu nhập sâu sắc giữa các tầng lớp lao động.
  • Tiết 3.2: Sự vận động của phong trào công nhân ở các nước Tây Âu: Phân tích các đợt bãi công, biểu tình quy mô lớn của người lao động phản đối các chính sách thắt lưng buộc bụng, cắt giảm an sinh xã hội, tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước; sự kết hợp giữa mục tiêu kinh tế (tiền lương, thời gian làm việc, tuổi nghỉ hưu) với mục tiêu chính trị - xã hội; việc ứng dụng công nghệ thông tin và mạng Internet để liên kết lực lượng; thực trạng tham gia các thỏa thuận tập thể và vai trò của các tổ chức công đoàn.

Luận án xây dựng hệ thống 8 bảng thống kê kinh tế - xã hội để minh chứng:

Ký hiệu bảng Tên bảng số liệu trong luận án Trang trong văn bản
Bảng 3.1 Cơ cấu lực lượng lao động theo lĩnh vực ngành nghề 59
Bảng 3.2 Cơ cấu Tổng sản phẩm quốc nội 60
Bảng 3.3 Tỷ trọng lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ (trong tổng số toàn bộ lực lượng lao động của mỗi khu vực) 60
Bảng 3.4 Tỷ trọng lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở các nước G7 (2011) 61
Bảng 3.5 Sự phân bổ các ngành nghề ở Pháp 62
Bảng 3.6 Số lượng lao động (nghìn người) theo cơ cấu ngành nghề ở Đức 63
Bảng 3.7 Cơ cấu nghề nghiệp (tính theo %) của 6 nước G7 68
Bảng 3.8 Tỷ lệ người lao động tham gia các thỏa thuận tập thể 77

Chương 4: Nhận xét về phong trào công nhân ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011 và một số vấn đề rút ra đối với việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

  • Tiết 4.1: Nhận xét, đánh giá về phong trào công nhân ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011:
    • Mặt tích cực, cống hiến: Khẳng định PTCN Tây Âu sau giai đoạn khủng hoảng gay gắt đã từng bước hồi phục từ nửa cuối thập niên 90; tiếp tục giữ vị trí lực lượng chính trị - xã hội quan trọng thúc đẩy dân sinh, dân chủ và hòa bình; là lực lượng xã hội chủ yếu cản trở sự bóc lột của tư bản độc quyền, duy trì xu thế phát triển tiến bộ hướng tới CNXH.
    • Mặt khó khăn, hạn chế: Phong trào thiếu một cương lĩnh thống nhất ở tầm liên quốc gia (toàn EU); các ĐCS còn phân tán, chia rẽ nội bộ; sự gia tăng tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, tính "phường hội chủ nghĩa" ở một bộ phận công đoàn và công nhân có cổ phần/thu nhập cao; sự phân hóa giai cấp trước làn sóng nhập cư.
  • Tiết 4.2: Một số vấn đề rút ra đối với việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay:
    • Nâng cao nhận thức về sứ mệnh lịch sử và bản lĩnh chính trị của GCCN Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
    • Đẩy mạnh trí thức hóa công nhân, nâng cao trình độ văn hóa, kỹ năng tay nghề và tác phong công nghiệp đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghệ mới.
    • Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt Nam; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
    • Tăng cường liên minh công - nông - trí thức và giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với GCCN.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án góp phần làm sáng tỏ và khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, vai trò và sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN trong điều kiện lịch sử mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại.
  • Bác bỏ trên cơ sở khoa học các quan điểm sai trái của các học giả tư sản cho rằng GCCN "đã biến mất", "bị hòa tan" hay "trở thành giai cấp trung sản".
  • Làm rõ sự vận động, phân hóa và phân tầng trong nội bộ GCCN Tây Âu dưới tác động kép của CMKHCN, toàn cầu hóa và quá trình nhất thể hóa châu Âu.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Dựng lại bức tranh lịch sử chân thực, hệ thống về thực trạng và sự biến động của PTCN ở 3 nước tiêu biểu của Tây Âu (Anh, Pháp, Đức) trong 20 năm sau Chiến tranh lạnh (1991–2011).
  • Chỉ rõ nguyên nhân, đặc điểm các đợt đấu tranh xã hội và những hạn chế căn bản về mặt tổ chức của phong trào trước sự phát triển của nhà nước nhất thể hóa EU.
  • Đề xuất các bài học kinh nghiệm thực tiễn phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định đường lối, chính sách xây dựng GCCN Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa X (Nghị quyết số 20-NQ/TW) và cung cấp cứ liệu khoa học cho công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Do giới hạn về nguồn tư liệu và quy mô đề tài lịch sử, luận án chỉ tập trung khảo sát 3 quốc gia tư bản phát triển đầu tàu ở Tây Âu (Anh, Pháp, Đức), chưa thể bao quát toàn bộ các quốc gia khác trong khu vực EU (như Nam Âu, Bắc Âu). Khung thời gian nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2011.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh PTCN giữa các tiểu vùng thuộc châu Âu (Tây Âu, Bắc Âu, Nam Âu, Đông Âu).
    • Nghiên cứu sự vận động của PTCN và các ĐCS ở Tây Âu trong giai đoạn sau năm 2011 đến nay, đặc biệt dưới tác động của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, Brexit, các biến động địa chính trị quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Triết học Mác - Lênin, Xã hội học và Quan hệ quốc tế.
  • Cán bộ nghiên cứu lý luận và đối ngoại: Các cơ quan nghiên cứu chiến lược, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao trong việc nắm bắt diễn biến chính trị - xã hội tại các nước Tây Âu và quan hệ với các chính đảng cánh tả, cộng sản trên thế giới.
  • Cán bộ công đoàn và nhà hoạch định chính sách: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cơ quan quản lý lao động trong việc nghiên cứu mô hình thỏa ước lao động tập thể, bảo vệ quyền lợi người lao động và xây dựng giai cấp công nhân hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng, không gian và thời gian nghiên cứu cụ thể như thế nào?

Luận án tập trung nghiên cứu phong trào công nhân ở 3 nước tư bản phát triển tiêu biểu tại Tây Âu gồm Anh, Pháp và Đức; phạm vi thời gian được giới hạn trong 20 năm, từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc (năm 1991) đến năm 2011.

2. Luận án bác bỏ luận điểm "GCCN biến mất" hoặc "trở thành giai cấp trung sản" của các học giả tư sản bằng những căn cứ nào?

Luận án chỉ ra rằng dù CMKHCN và kinh tế tri thức thúc đẩy quá trình trí thức hóa công nhân, hình thành bộ phận "công nhân cổ trắng" và "công nhân tri thức", nhưng bản chất kinh tế - xã hội của họ không thay đổi: họ vẫn là những người làm thuê, không có TLSX chủ yếu, trực tiếp hoặc gián tiếp vận hành quy trình sản xuất hiện đại và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Các hình thức sở hữu cổ phần nhỏ lẻ hay phúc lợi xã hội chỉ là thủ đoạn xoa dịu mâu thuẫn của giai cấp tư sản, không làm mất đi tính đối kháng giai cấp.

3. Nhóm chính trị GUE/NGL trong Nghị viện châu Âu có vai trò và cương lĩnh ra sao theo phân tích của luận án?

GUE/NGL (Đảng đoàn Cánh tả Thống nhất châu Âu/Cánh tả Xanh Bắc Âu) hình thành từ năm 1989 (ban đầu gồm 4 đảng), kết nạp thêm các ĐCS Pháp, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, ĐCS Tái lập Italia năm 1994, và đổi tên năm 1995 thành nhóm chính trị lớn thứ tư trong Nghị viện châu Âu. Cương lĩnh của nhóm hướng tới hợp nhất châu Âu trên cơ sở dân chủ, giải quyết nạn thất nghiệp quy mô lớn, bảo vệ môi trường, trao quyền bình đẳng, xóa đói giảm nghèo, củng cố OSCE và chủ trương giải tán NATO, WEU.

4. Báo cáo của IMF năm 1998 được luận án trích dẫn phản ánh thực trạng di cư lao động ra sao?

Theo số liệu thống kê năm 1998 của IMF được dẫn trong luận án, khoảng 12,9 triệu người thuộc tầng lớp có học thức đã di cư từ các nước kém phát triển sang các nước thuộc khối OECD, trong đó có 7,0 triệu người đến Mỹ và 5,9 triệu người còn lại chủ yếu chuyển dịch đến châu Âu (tình trạng chảy máu chất xám).

5. Những vấn đề rút ra đối với việc xây dựng GCCN Việt Nam được gắn với nghị quyết nào của Đảng?

Luận án gắn trực tiếp các bài học rút ra với việc kiểm chứng và thực hiện các giải pháp của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X (Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng) về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phong trào công nhân ở các nước Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2011" là công trình sử học chuyên khảo đã làm rõ bức tranh thực trạng, cơ cấu biến động và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tại 3 nước Anh, Pháp, Đức trong 2 thập niên sau Chiến tranh lạnh. Dù chịu tác động nặng nề từ sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô - Đông Âu, toàn cầu hóa kinh tế và sự điều chỉnh của CNTB hiện đại, phong trào công nhân Tây Âu đã từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn nhất để khẳng định vị trí là một lực lượng chính trị quan trọng thúc đẩy tiến bộ xã hội. Kết quả nghiên cứu của luận án vừa củng cố vững chắc cơ sở lý luận mácxít về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vừa cung cấp các bài học kinh nghiệm thực tiễn giá trị cho công tác đối ngoại và nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.