CHƯƠNG I: CHÊNH LỆCH PHÁT TRIỂN 1.1 Khái niệm về chênh lệch phát triển Khái niệm phát triển có nội hàm rất rộng, liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, song với cách tiếp cận con người là trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển thì phát triển con người là “quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống cả vật chất, tinh thần và năng lực của con người”. Phát triển bao hàm nhiều khía cạnh từ kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, sức khoẻ cộng đồng đến môi trường. Các thước đo quá trình phát triển do vậy cũng toàn diện và đa chiều hơn.Chỉ số bao quát nhất về mặt lượng là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu nhập bình quân đầu người. Từ đầu thập kỉ 90, Liên hợp quốc bắt đầu sử dụng Chỉ số phát triển con người (HDI) nhằm phản ánh xác thực hơn mặt chất của quá trình phát triển.
“Chênh lệch phát triển hàm ý chỉ sự chênh lệch về mặt chất lượng cuộc sống giữa người với người ở những quốc gia khác nhau, giữa các vùng miền trong một quốc gia”. Có thể dùng các chiều cạnh chủ yếu của quá trình phát triển để làm thước đo chênh lệch phát triển, đó là: thu nhập, thương mại, phát triển con người, sự khác biệt về thể chế và năng lực cạnh tranh. Chênh lệch phát triển luôn tồn tại. Và vấn đề “khoảng cách phát triển” hàm chứa nhiều khía cạnh, cả “an ninh quốc gia” cũng như “an ninh con người”.
Chênh lệch phát triển trong khu v ực ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời năm 1967 trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu giữa hai hệ thống. Do vị trí địa lý và ý đồ chiến lược của Mỹ, ASEAN đã trở thành chiến tuyến đối đầu trực tiếp giữa hai hệ thống do hai siêu cường là Liên Xô và Mỹ đứng đầu. Trong bối cảnh đó, ASEAN lấy an ninh truyền thống với hàm ý là độc lập, chủ quyền và đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ làm động lực trong hợp tác, lấy quan hệ chính trị và tương quan sức mạnh quân sự quốc gia là trụ cột đảm bảo an ninh cho mỗi nước thành viên cũng như toàn bộ ASEAN. Kể từ những năm 1990, chiến tranh lạnh kết thúc, sự đối đầu giữa hai hệ thống đã chấm dứt, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tăng lên nhanh chóng khiến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng chặt chẽ hơn, an ninh của một quốc gia không chỉ bó hẹp trong phạm vi truyền thống là các nhân tố chính trị và quân sự nữa, mà còn chịu sức ép của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, sắc tộc, tôn giáo, bệnh dịch, buôn lậu xuyên quốc gia.
Do đó, khái niệm an ninh mới hay an ninh phi truyền thống trở nên phổ biến với nội hàm rất rộng, bao gồm Líp: CLC - K55 - Khoa §Þa lý 6 Trêng §HSP Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn KiÒu Oanh tất cả các nhân tố làm tăng mức lo ngại về an ninh, và an ninh kinh tế trở thành một bộ phận của an ninh quốc gia nhằm đảm bảo cho hệ thống kinh tế vận hành thông suốt và bảo tồn bản sắc dân tộc. Ngày nay an ninh quốc gia của nhiều nước bị đe doạ vì kinh tế yếu kém. Đứng trên góc độ đó, có thể thấy chênh lệch phát triển ngày càng trở thành nhân tố đe dọa an ninh kinh tế, ổn định và phát triển trong khu vực.1 Chênh lệch về một số chỉ số cơ bản 1. Chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người Ở mức độ lớn, chênh lệch trong thu nhập bình quân theo đầu người phản ánh chênh lệch về mức sống.
Chúng cũng phản ánh chênh lệch trong khả năng sản xuất của mỗi quốc gia.1: GNP tính theo đầu người danh nghĩa và điều chỉnh theo tương quan về sức mua (PPP), 1999 Mức thu Tỷ giá hối đoái chính thức sử Điều chỉnh theo Quốc gia nhập dụng được quy đổi (USD) PPP (USD) Cao Singapo 30.840 Trung bình Philippin 1.200 Nguồn: Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới 1999 - 2000, 1999 Qua bảng 1.1 cho thấy chênh lệch về mức thu nhập tính theo đầu người giữa các quốc gia Đông Nam Á. Năm 1998, GNP tính theo đầu người danh nghĩa của Singapo (30.060 USD) cao hơn Campuchia (280 USD) 107 lần. Thậm chí nếu giảm đi 20 đến 30% đối với một nền kinh tế đô thị như Singapo thì mức chênh lệch về kinh tế này vẫn rất lớn. Theo phân loại của Ngân hàng Thế giới thì Inđônêxia đang ở ngưỡng giữa các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp hơn, trong khi Malaixia, Líp: CLC - K55 - Khoa §Þa lý 7 Trêng §HSP Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn KiÒu Oanh Philippin và Thái Lan thuộc các nước có thu nhập trung bình thấp hơn.
Singapo và Brunây là hai nước có thu nhập cao duy nhất ở Đông Nam Á. Hiện nay chênh lệch phát triển giữa các nước ASEAN khá rõ ràng, đặc biệt là giữa ASEAN-6 và ASEAN-4 (CLMV). Các nước ASEAN-6 đã phát triển kinh tế thị trường trong hơn 3 thập kỷ, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 1000 USD/người, trong khi đó các nước ASEAN-4 đều là các nền kinh tế chuyển đổi với mức thu nhập chưa đến 400 USD/người; trong số bốn nước này, chỉ có Việt Nam được xếp vào nhóm các nước đang phát triển, ba nước còn lại đều thuộc nhóm nước kém phát triển. Tính theo mức thu nhập bình quân đầu người, nước cao nhất trong ASEAN là Singapo và nước cao nhất trong nhóm CLMV là Việt Nam thì chênh lệch là 50 lần; giữa Singapo với nước nước nghèo nhất trong ASEAN mới là Mianma thì chênh lệch lên tới 136 lần; nước nghèo nhất trong ASEAN cũ là Indônêxia và Philipin cũng có mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp 2 - 3 lần nước có mức thu nhập cao nhất trong ASEAN mới Theo thu nhập bình quân đầu người, các nước trong ASEAN được phân thành 3 nhóm với trình độ phát triển khá cách biệt nhau: nhóm nước thu nhập cao bao gồm Singgapo và Brunây; nhóm nước có thu nhập khá cao gồm Malaixia, Thái lan, Philippin, Inđônêxia; những nước có thu nhập thấp gồm Campuchia, Lào, Mianma, Việt Nam (các nước CLMV).
Chênh lệch giữa các nhóm nước rất lớn: Các nước CLMV có thu nhập chỉ bằng từ 1/3 – 1/5 mức thu nhập bình quân đầu người toàn ASEAN. Là nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất trong nhóm 3 nhưng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam cũng chỉ bằng 2/3 mức thu nhập của nước có thu nhập thấp nhất trong nhóm 2 là Inđônêxia và chỉ bằng 1/11 mức thu nhập của Singgapo - nước có thu nhập cao nhất trong ASEAN. Hơn nữa, các nước ASEAN cũ đạt được thành tựu tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục trong khoảng 3 thập kỷ, trong khi đó các nước CLMV vẫn đang trong quá trong chuyển đổi sang kinh tế thị trường và thúc đẩy hội nhập quốc tế, tăng trưởng kinh tế đạt khá cao, song không đều và chưa có tính liên tục.2: Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP/người trong ASEAN Tốc độ tăng trưởng GDP GDP/người Nước 1985 - 1990 - 1995 - 2000 - PPP PPP 1996 2001 1989 1994 1999 2004 2001 2003 Brunây - 0,4 1,6 2,9 - 17096 12245 - 19210 Líp: CLC - K55 - Khoa §Þa lý 8 Trêng §HSP Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn KiÒu Oanh Inđônêxia 6,0 8,0 1,6 4,55 1155 691 2940 3361 Malaysia 4,9 9,3 5,1 5,14 4766 3696 8750 9512 Philipin 2,7 1,9 3,6 4,26 393 914 3840 4321 Singapo 6,3 9,4 5,9 4,18 24784 20659 22680 24481 Thái Lan 9,0 9,0 1,4 5,06 3035 1831 6400 7595 Việt Nam 4,3 7,3 7,5 6,58 337 416 2070 2490 Lào - - 6,4 5,98 393 330 1620 1759 Campuchia - - 4,14 4,86 312 270 1860 2078 Mianma - - 6,2 12,68 109 151 - - Bình quân 1490 1154 Nguồn: World Bank 2001; IMF May 2000, Human Developmen Reprot (2005), ADB (2005) Mặc dù 10 quốc gia khi hợp thành một nền kinh tế, thì vẫn còn sự chênh lệch lớn về thu nhập tính theo đầu người do những khác biệt về các nguồn lực nhân tố sẵn có. Thu nhập tính theo đầu người quy đổi thành USD theo tỷ giá hối đoái chính thức có xu hướng làm giảm vị trí thu nhập tương đối của các nước chậm phát triển trên thế giới trong mối quan hệ với các nước tương đối phát triển hơn.
Điều này xảy ra vì nhiều hàng hoá và dịch vụ ở những quốc gia này không được buôn bán rộng rãi trên thị trường thế giới và vì thế chúng không ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái.2 cũng cho thấy chênh lệch trong GNP tính theo đầu người khi sử dụng tỷ giá hối đoái chính thức và tương quan về sức mua. Trong năm 1998, GNP tính theo đầu người của Malaixia chiếm khoảng 12% GNP của Mỹ nhưng khi sử dụng tỷ giá hối đoái chính thức. Tuy nhiên, nó lại chiếm khoảng 24%GNP của Mỹ khi sử dụng PPP. Khi sử dụng tỷ giá hối đoái chính thức, GNP tính theo đầu người của Singgapo lại cao hơn Mỹ nhưng khi sử dụng PPP điều chỉnh thì GNP tính theo đầu người của Singapo lại thấp hơn của Mỹ.
Thậm chí giữa các quốc gia ASEAN, GNP tính theo đầu người cũng khác nhau tuỳ thuộc vào việc sử dụng tỷ giá hối đoái chính thức hay PPP.2 Chênh lệch trong tốc độ tăng trưởng Bảng 1.3: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm (%), 1980 – 1998 Quốc gia 1980 - 1990 1990 - 1998 1960 - 1998 Líp: CLC - K55 - Khoa §Þa lý 9 Trêng §HSP Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp NguyÔn KiÒu Oanh Inđônêxia 6,1 5,8 5,8 Malaixia 5,3 7,7 6,8 Mianma 0,6 6,3 3,5 Singapo 6,6 8,0 8,0 Thái Lan 7,6 7,4 7,7 Philippin 1,0 3,3 3,9 Nguồn: Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới các số khác nhau Qua bảng trên có thể thấy, trong giai đoạn 1960 - 1998, Singapo luôn dẫn đầu danh sách với mức tăng trưởng bình quân 8,0%/năm, theo sát sau đó là Thái Lan với mức tăng trưởng 7,7%/năm, Malaixia với mức tăng trưởng 6,8%/năm và Inđônêxia là 5,8%/năm. Về phát triển kinh tế toàn diện, có thể nói các nước ASEAN - 4 đi sau Thái Lan và Malaixia khoảng 4 thập kỷ. Các nước ASEAN - 4 có lẽ không thiếu tiềm năng để phát triển nhưng các nước này cần có nền chính trị ổn định và các chính sách xã hội ổn định và nền kinh tế đi theo định hướng tăng trưởng trong một thời gian dài để có thể tăng thu nhập tính theo đầu người lên mức độ đáng kể.