Chương 1 VAI NET SƠ LƯỢC VE CUỘC KHUNG HOẢNG KINH TE THE GIỚI 1929 - 1933 1. Khái quát về khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933. Theo Tir điển kinh tế” (G. Cô - do - lốp và S.
Pe-rơ-vu-sưn chủ biên), khủng hoảng kinh tế trong chế độ tư bản chủ nghĩa là: “Mộ giai đoạn của chu kỳ tư bản chủ nghĩa, đặc trưng của nó là sự bùng nồ dữ dội của tat cả các mâu thuần trong nên kinh tế tư bản chủ nghĩa, sản xuất thừa hàng hoá, việc tiêu thụ hàng hoá cực kỳ khó khăn, giá cả sụt xuống, sản xuất bị thu hẹp mau chóng, nạn thất nghiệp tăng lên, tiền lương giảm sút, tiền mặt thiếu ghê gớm, quan hệ tín dụng bị pha hoại, nhiễu xí nghiệp bị đóng cua” [11,270-271]. Khủng hoảng kinh tế là một hiện tượng tất yếu trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, là biểu hiện cao độ những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Đó là mâu thuẫn giữa nền sản xuất phát triển tự do và mục tiêu theo đuôi lợi nhuận tối đa của chủ nghĩa tư bản với khả năng tiêu dùng có hạn của quần chúng lao động. “Tinh tất yếu của khủng hoảng kinh tế bắt nguồn ngay trong bản thân chủ nghĩa tư bản.
Nguyên nhân khủng hoảng là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản - mâu thuẫn giữa tinh chất xã hội của sản xuất và hình thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa về kết quả sản xuất. Mau thuẫn đó biểu hiện ra trong trạng thái vô chính phủ của nên sản xuất tư bản chủ nghĩa, các tỷ lệ của nên sản xuất xã hội thường xuyên bị phá hoại. Mâu thuẫn đối kháng giữa sản xuất và tiêu dùng, mâu thudn vốn có của nên kinh tế tư bản chủ nghĩa, là sự biểu hiện của mâu thuần cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Trong việc theo đuối lợi nhuận lớn nhất, nhà tư bản một mặt mở rộng sản xuất, mặt khác nâng cao mức độ bóc lột nhân dân lao động.
Trên cơ sở đó, nhu câu có khả năng thanh toán của nhân dân lạc hậu hon so với khả năng phát triển của sản xuất. Khủng hoảng kinh tế sẽ nỗ ra khi nào sự tách rời giữa sản xuất ngày càng phát triển và nhu cầu có khả năng thanh toán lạc hậu, đạt tới mức độ rất lon. Khủng hoảng kinh tế la sự bùng no những mâu thuẫn đang ton tại và là sự giải quyết tạm thời có tính cách cưỡng bức đối với những mâu thuần đó ” [11,270-271]. Trong lịch sử, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã từng trải qua rất nhiều cuộc khủng hoảng từ phạm vi quốc gia đến khủng hoảng trong toàn bộ thế giới tư bản, trung bình cứ từ 8 đến 10 năm lại có một cuộc khủng hoảng.
Từ năm 1825 đến lần khủng hoảng gần đây nhất đang diễn ra từ năm 2008, nên kinh tế thế giới đã xảy ra 22 cuộc khủng hoảng lớn'. Trong các cuộc khủng hoảng đó, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 là một trường hợp đặc biệt. Theo Dai từ dién kinh tế thị trường, đây là cuộc “đại khúng hoảng, đại tiêu điều, một cuộc khủng hoảng sản xuất thừa có tính chất thé giới nghiêm trọng nhất, sâu sắc nhất, diện rộng nhất trong lịch sử tư bản chủ nghĩa ” [46, 62]. Về thời điểm, cuộc khủng hoảng này diễn ra trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và liên quan đến cả hai cuộc chiến này.
Về phạm vi, đây là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, có ảnh hưởng đối với các khu vực, các quốc gia trên thế giới ở những mức độ khác nhau. Về hậu quả, nó đã dé lại những hậu quả nặng nề không những về kinh tế mà còn về cả chính trị - xã hội. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) kết thúc, các nước trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia cuộc chiến đều phải đối mặt với những khó khăn trầm trọng. Trong và sau cuộc chiến, giữa các nước tư bản có sự phân Ị Những cuộc khủng hoảng diễn ra vào các năm 1825, 1836, 1847, 1857, 1866, 1873, 1882, 1900, 1907, 1914 - 1921, 1929 - 1933, 1937 - 1938, 1948 - 1949, 1953 - 1954, 1957 - 1958, 1960 - 1961, 1969 - 1971, 1974 - 1975, 1980 - 1982, 1997 và cuộc khủng hoảng xảy ra từ năm 2008 vân chưa kêt thúc.
hoá sâu sắc thành những nhóm nước khác nhau. Bàn cờ chính trị trên thế giới đã có nhiều thay đổi do việc phân chia quyền lợi, thiết lập trật tự thé giới mới va vi thế của mỗi nước trong trật tự đó. Những nước không trực tiếp tham chiến hoặc tham chiến ở mức độ nhất định đã có những điều kiện thuận lợi dé phát triển kinh tế và vươn lên. Nổi lên tiêu biểu trong số những nước nay là Hoa Ky và Nhật Bản - không những không bị bom đạn tàn phá mà còn kiếm được những khoản lợi nhuận lớn trong chiến tranh dé vươn lên dẫn dau thế giới tư bản.
Sau chiến tranh, Hoa Kỳ trở thành chủ nợ lớn của các nước tham gia cuộc chiến. Những nước trực tiếp tham gia chiến tranh, dù thắng hay bại trận, đều bị chiến tranh tàn phá, sản xuất và thương mại bị đình đốn. Bên cạnh đó, những nước này còn phải chịu những khoản chi phí quân sự khong lồ - chủ yếu đi vay từ Hoa Kỳ. Những nước thăng trận phải gấp rút khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, Trong khi đó, những lợi ích thu được từ chiến tranh không thể bù đắp được những tồn thất mà cuộc chiến gây ra.
Với những nước bại trận, tình cảnh còn thê thảm hơn. Ngoài việc bị chiến tranh tàn phá, những nước đó còn phải chịu những điều khoản áp đặt nặng nề: bị thu hẹp lãnh thổ, mat thuộc địa, phải bồi thường chiến phi, bi hạn chế trong việc phát triển quân đội và công nghiệp quốc phòng. Ngoài những khó khăn nêu trên, các nước tư bản Tây Âu còn phải đối mặt với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước cũng như phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của các nước tư bản sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đều có những bat ồn.
Tuy nhiên, các nước này đã dần khắc phục được khó khăn, tạo ra một thời kỳ 6n định và thịnh vượng về kinh tế trong những năm 1924 - 1929. 10 Tại Hoa Kỳ, từ năm 1923 - 1929, sản lượng công nghiệp tăng 69% [35, 94]. Năm 1929, sản lượng công nghiệp Đức dat mức 113% trước chiến tranh, vượt qua Anh, Pháp [35, 82]. Sản lượng công nghiệp của Pháp năm 1930 vượt 140% so với năm 1913 [35, 91].
Mac dù quá trình phục hồi của nước Anh diễn ra chậm chạp nhưng đến năm 1929, sản lượng công nghiệp cũng đạt mức năm 1913. Ở các nước tư bản khác, quá trình phục hồi và phát triển kinh tế cũng diễn ra tương tự. Tuy nhiên, thời kỳ ôn định 1924 - 1929 không kéo dài được lâu, bởi ngay sau đó, thế giới lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933. Mốc đánh dau cuộc khủng hoảng nỗ ra là sự sụp đồ của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, đó là sự kiện Ngày thir Năm đen tôi (24/10/1929).
Giá cô phiếu có sự suy giảm từ ngày 3/9/1929 nhưng các nhà đầu tư vẫn rất lạc quan vì họ cho rằng đây là sự sút giảm bình thường. Ngày 21/10/1929 giá cổ phiếu bắt đầu sút giảm hàng loạt, các nhà dau tư tỏ ra sợ hãi. Do không thé dự đoán giá cô phiếu có thể sụt giảm đến mức nao, ho bat đầu 6 at bán cô phiếu với số lượng lớn. Đỉnh điểm là Ngày thir Năm đen tôi 24/10/1929, niềm tin vào thi trường chứng khoán bị đồ vỡ nghiêm trọng.
Ngày 27/10/1929 hơn 16,4 triệu cô phiếu đã được rao bán với giá thấp kỉ lục, trong một thời gian dài hầu như không có nhà đầu tư nao đặt lệnh mua cô phiếu Vào ngày thứ ba (29/10/1929), hon 13 triệu cổ phiếu được tung ra thị trường với giá chỉ bằng 2/3 giá trị thực [49, 222]. Thị trường trở nên hỗn loạn bởi các nhà đầu tư đã mất tin tưởng và quyết định bán tống, bán tháo tất cả cô phiếu mình nắm giữ. Sự can thiệp của những ngân hàng và các nhà tài phiệt trở thành vô nghĩa bởi sự sụt giá của các cô phiếu là tất yêu do một thời gian dai các cô phiếu đã bị đây lên vượt quá giá trị thực của nó. Chi tính riêng ở New York, các cổ đông đã mat tới 15 tỷ đô la [35, 109].
Hệ qua tất yếu là sự sụp đồ của hệ thống ngân hàng do tiền mua cô 11 phiếu chủ yếu là số tiền đi vay, khi cô phiếu mắt giá, họ không có kha năng trả nợ. Do sự đồ vỡ của thị trường chứng khoán, những người giàu có chi tiêu và đầu tư thận trọng hơn, tang lớp trung lưu và người nghèo chi dùng ít hơn, đặc biệt là những khoản mua hàng hóa băng tín dụng bởi lo sợ nếu mắt việc sẽ dan đến mat khả năng thanh toán. Hàng hóa “?zz” ứ đọng trên thị trường dẫn tới sản xuất đình đồn. Cũng vì lí do an toàn, những nhà đầu tư bắt đầu giảm những khoản dau tư ra nước ngoài.
Dé bảo vệ nền sản xuất trong nước, các nước đã dựng lên hàng rào thuế quan và áp dụng những mức biểu thuế rất cao, thậm chí còn đặt thêm nhiều loại thuế mới (trong thời gian này ở Hoa Kỳ đã có tới 900 loại thuê) [18, 6]. Từ Hoa Kỳ, cuộc khủng hoảng đã lan rộng ra các quốc gia công nghiệp và cả những nước thuộc địa và phụ thuộc (nơi cung cấp chủ yếu nguồn nguyên liệu thô) trên toàn thé giới. Thương mại toàn cau bị sút giảm nhanh chóng và cùng với đó là sự sút giảm các khoản thu nhập cá nhân, các khoản thu từ thuế, giá cả hầu hết các hàng hóa đều giảm, sản xuất bị thu hẹp và đình đốn. Hau hết các khu vực, các quốc gia trên thế giới đều chịu những hậu quả nghiêm trọng.
Trong nông nghiệp, các chủ trang trại và nông dân phải chịu tình cảnh giá nông sản hạ nghiêm trọng. Cùng với sản xuất nông nghiệp, khai mỏ và thương mại cũng là những ngành phải chịu hậu quả nặng nề. Cuộc khủng hoảng nhanh chóng lan rộng và trở thành cuộc khủng hoảng có tính chất toàn cầu với mức độ tàn phá khủng khiếp. 12 Như vậy, bắt đầu từ lĩnh vực tài chính, ngân hàng, khủng hoảng đã lan rộng ra mọi ngành kinh tế khác, đồng thời đề lại những hậu quả sâu sắc về mặt chính trị và xã hội.