đặt vấn đề tìm ra chiến lược nhằm điều hòa các vấn đề của dân tộc bản địa ở Sabah; Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu lịch sử các cộng đồng tôn giáo khác, nghiên cứu những nỗ lực của chính phủ trong việc củng cố nền chính trị Liên bang và chế độ kinh tế - xã hội nhằm duy trì được mối liên kết Liên bang - Tiểu bang. Những vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình sáp nhập lãnh thổ và thành lập Liên bang Malaysia được phân tích và lý giải khá chi tiết trong 18 cuốn sách của học giả Shirashi Takashi (2009), Across the Causeway: A Multi-dimensional Study of Malaysia-Singapore Relations [164]. Cuốn sách gồm tổng hợp 13 bài nghiên cứu về lịch sử, chính trị, an ninh khu vực, luật pháp và kinh tế. Các công trình nghiên cứu đa ngành để khám phá sự phức tạp và đa dạng của mối quan hệ giữa Malaysia và Singapore.
Chẳng hạn như sự pha tạp về địa lý, liên kết kịch sử, các sự kiện và các phong trào đã từ lâu kết nối con người và lãnh thổ của hai quốc gia này. Tác giả đưa ra những dẫn chứng về mối quan hệ giữa hai quốc gia trên được kiến tạo không chỉ bởi những quan điểm khu biệt về tính dân tộc và các quỹ đạo chính trị khác nhau mà còn bởi hiện thực của sự tương tác kinh tế và cạnh tranh lẫn nhau. Bên cạnh đó là các lĩnh vực về hợp tác an ninh và việc xây dựng khu vực Đông Nam Á định hướng thị trường cũng góp phần quan trọng vào sự tồn tại và phát triển của hai quốc gia này. Về tư liệu tiếng Malaysia Các công trình nghiên cứu tiếng Malaysia tiêu biểu như: Al-Attas, S.
Các công trình này đã đưa ra những bằng chứng lịch sử của Islam đối với đời sống tinh thần của người Melayu; sự tiếp nhận Islam và sự phát triển lịch sử Đông Nam Á nói chung và thế giới Melayu nói riêng. Tham khảo các công trình này gợi ý hướng tiếp cận về vai trò của Islam trong lịch sử cũng như trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước Malaysia sau độc lập đến nay; lý giải mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo - nhà nước - sự thống nhất dân tộc v. Tình hình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về Malaysia ở Việt Nam chủ yếu được bắt đầu vào thập niên cuối của thế kỷ XX. Hai công trình chuyên sâu về chủ đề giải phóng dân tộc được đánh giá mang tầm bao quát những nét chung cả về lý luận lẫn thực tiễn của các phong trào ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh đó là: Đỗ Thanh Bình (chủ biên) (1999), Con đường cứu nước trong cuộc đấu tranh 19 giải phóng dân tộc ở một số nước châu Á (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945) [4]; Đỗ Thanh Bình (2006), Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX - Một cách tiếp cận [6].
Trong các công trình này, các tác giả đã đi sâu phân tích về điều kiện đặc thù của các quốc gia Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia. có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn con đường giành độc lập dân tộc. Hai công trình trên gợi ý hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu về con đường phát triển đất nước của các quốc gia trên thế giới. Trong khi đó, nghiên cứu về lịch sử các nước Đông Nam Á nói chung và Malaysia nói riêng được Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (1983) công bố cuốn sách Chính sách của các cường quốc tư bản và phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á [113].
Công trình đưa ra cứ liệu khoa học về các chính sách của thực dân tư bản phương Tây áp đặt tại thuộc địa Đông Nam Á và hệ quả tất yếu của chính sách thực dân là phong trào chống thực dân phương Tây đã bùng nổ ở khắp các quốc gia Đông Nam Á; Trần Thị Vinh (1998) với cuốn Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay [112], là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các quốc gia Đông Nam Á sau khi giành được độc lập. Hai công trình này đưa ra cơ sở dữ liệu để đề tài tiếp cận về chủ đề con đường đấu tranh giành độc lập; quá trình xây dựng và phát triển của Malaysia và các quốc gia trong khu vực với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện riêng của mỗi nước. Đây là công trình mang tính khái quát cao về lịch sử hình thành, những nét văn hóa cơ bản, các mô hình chính trị, kinh tế - xã hội của 11 quốc gia Đông Nam Á. Trong đó mô hình xây dựng nền chính trị, kinh tế - xã hội của Malaysia gợi mở sự tiếp cận về sự nghiệp củng cố độc lập của quốc gia này.
Học giả Trần Khánh chủ biên (2012), Lịch sử Đông Nam Á, Tập IV [46]; Phạm Đức Thành (chủ biên) (2012), Lịch sử Đông Nam Á, Tập V [96]. Các công trình này cung cấp lượng kiến thức tương đối có hệ thống về quá trình 20 xâm nhập, bành trướng, thiết lập chế độ cai trị và khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây, quân phiệt Nhật và con đường đấu tranh giành và củng cố nền độc lập dân tộc của Malaysia nói riêng và các quốc gia Đông Nam Á nói chung trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Qua đó gợi mở hướng nghiên cứu về tính đặc thù của Malaysia khi lựa chọn cách thức giành độc lập khác với các nước trong khu vực. Ngoài ra tác giả tiếp cận nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến mảng nội dung này được công bố trong các luận án và đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu quốc tế v.
Về việc xây dựng nền dân chủ tƣ sản, lựa chọn con đƣờng phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chính sách ngoại giao. nhằm củng cố độc lập dân tộc và phát triển đất nƣớc của Malaysia 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Về tư liệu tiếng Anh Trước hết, góc độ nghiên cứu về các nền chính trị - xã hội, về sự lựa chọn con đường phát triển của Malaysia. Tiêu biểu là Pye Lucian.
W (1956) với cuốn Guerrilla Communism in Malaya: It's Social and Political Meaning [155]; học giả Funston, N. Hai công trình này đề cập tới nền chính trị ở Malaysia; về hai đảng chính trị lớn tại Malaysia là UMNO và PAS. Trong các công trình này, tác giả đã cung cấp những nét cơ bản về hệ thống chính trị của Malaysia; về sự đối lập của hai đảng này; những chiến lược, chiến thuật khác nhau của hai đảng nhằm nâng cao vai trò và vị trí của mình trong nền chính trị Malaysia; khẳng định tính quyết định của UMNO về nội dung và khuynh hướng chính trị của đất nước này. Học giả Comber Leon (2008), Malaya’s secret police 1945 - 1960 [132].
Công trình đã cung cấp tư liệu về tình hình an ninh ở 21 Malaya, về lực lượng cộng sản và những ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản đối với nền chính trị, xã hội ở Malaysia; tình hình các đảng phái chính trị ở Malaysia; sự ban bố "tình trạng khẩn cấp" của chính phủ Malaya trong năm 1969… Mặc dù cách nhìn nhận của các tác giả chưa thiện cảm với lực lượng cộng sản, song đây cũng là nguồn tài liệu cung cấp những thông tin hữu ích. Thứ hai, góc độ dân tộc, tôn giáo và ảnh hưởng của Islam đối với nền chính trị, xã hội Malaysia. Tiêu biểu là học giả người Malaysia, Mutaib Hussin (1980) với cuốn Islam and Ethnicity in Malay Politics [150]. Trong công trình này, tác giả đề cập tới vai trò của Islam và cộng đồng theo Islam trong nền chính trị của Malaysia.
Tác giả đã nhấn mạnh đến mối quan hệ "biện chứng" ("dealectic") giữa Islam và chủ nghĩa dân tộc của người Melayu, vai trò của Islam trong nền chính trị Malaysia cũng phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ này. Bởi lẽ, một mặt, Islam là cơ sở cho bản sắc dân tộc Melayu và đẩy nó đi xa hơn, mặt khác, lại chính Islam đã chia rẽ cộng đồng này". Nhà nghiên cứu Ratnam K. Công trình đề cập tới mối quan hệ giữa Islam với nền chính trị ở Malaysia.
Theo tác giả, Islam đã bảo vệ quyền lợi của người Melayu, góp phần thống nhất cộng đồng này bằng cách nhấn mạnh bản sắc riêng và quyền lợi riêng của cộng đồng đó trước các cộng đồng cư dân khác; là cơ sở để xây dựng và củng cố ý thức dân tộc Melayu, bản sắc Melayu trong quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo; Học giả Bakar Abu Mohamed (1987), Islam and Nationalism in Contemporary Malay Society, [130]. Học giả Jamaluddin, Khairy (2006), Out of the cage: Umno unplugged aiside, what matters most is Malaysia [138]… Trong các công trình này, các tác giả đề cập tới mối quan hệ đối kháng giữa cái gọi là lực lượng "chủ nghĩa dân tộc và Islam" và cho rằng, chính sự đối kháng của hai lực lượng chính trị này là một biểu hiện của phong trào phục hưng Islam hiện nay ở Malaysia. Theo các tác giả thì phải đến cuối những năm 70, đầu 80 của thế kỷ XX, người Melayu mới thừa nhận Islam là một hệ 22 thống hoàn chỉnh và cần cải tạo xã hội theo đường lối Islam. Quan trọng hơn, các tác giả của những công trình trên gợi mở hướng tiếp cận về vấn đề dân tộc, tôn giáo trong sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Malaysia đó là: chủ nghĩa dân tộc Melayu khác với chủ nghĩa dân tộc nói chung theo quan niệm phương Tây - "chủ nghĩa dân tộc Melayu chỉ là sự thể hiện ước muốn duy trì bản sắc văn hóa, toàn vẹn chính trị và phát triển kinh tế".
Đề tài tham khảo dưới góc độ này nhằm lý giải ảnh hưởng của vấn đề Islam trong sự nghiệp củng cố độc lập của quốc gia Malaysia. Thứ ba, nghiên cứu về các con đường phát triển kinh tế - xã hội của Malaysia. Tiêu biểu là Cục xuất bản Malaysia công bố công trình Malaixia kế hoạch triển vọng lần thứ hai 1991 - 2000 đã được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1997) dịch. Đây là công trình tổng hợp về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Malaysia trong 20 năm [73].
Cuốn sách đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch triển vọng lần thứ nhất (OPP1) trong những năm 1971 - 1990 mà trọng tâm là chính sách kinh tế mới (NEP). Trong hai thập niên, NEP đã đưa lại sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Malaysia.