Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán Chương 2: Thực trạng kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán hiện nay Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT đến năm 2020 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới hoạt động của các công ty chứng khoán 1. Khủng hoảng kinh tế và những tác động tới thị trường chứng khoán toàn cầu Ảnh hưởng đầu tiên từ cuộc khủng hoảng tín dụng diễn ra trên các thị trường cổ phiếu ở Mỹ, Châu Âu và trên khắp thế giới. Tổng lợi nhuận từ cổ phiếu ở Mỹ đã bắt đầu giảm từ giữa năm 2007 khi cơn hoảng loạn đầu tiên trên thị trường repo nổ ra.
Giá cổ phiếu bắt đầu lao dốc từ tháng 10 năm 2008 khi thị trường chứng kiến sự đổ vỡ của Lehman và sự cứu viện của chính phủ dành cho AIG. Những biến động song song của lợi nhuận từ cố phiếu tại Mỹ và trên toàn thế giới đã phản ánh mức độ hội nhập tài chính cao trong nền kinh tế thế giới khiến cho cuộc khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ lan rộng thành cuộc khủng hoảng toàn cầu. Từ giữa năm 2007, khi các thị trường cổ phiếu bắt đầu trượt dốc, khoảng 25 nghìn tỷ đôla trong giá trị cổ phiếu toàn cầu (tương đương khoảng 70% thu nhập hàng năm của Mỹ và Châu Âu cộng lại) đã bị mất đi. Sự sụp đổ giá chứng khoán diễn ra vào tháng 10 năm 2008 đi kèm với sự biến động ấn tượng về giá chứng khoán đã khiến thị trường vô cùng hoài nghi về khả năng tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai.Tuy nhiên, từ tháng 1 năm 2009, chỉ số biến động của thị trường chỉ giảm một nửa so với mức thông thường, cho thấy triển vọng thị trường đã trở nên chắc chắn hơn, trong khi giá cổ phiếu vẫn thấp thì triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp vẫn còn tỏ ra ảm đạm.
Hoạt động tín dụng đóng băng ở Mỹ và Châu Ấu, cộng với sự sa sút thịnh vượng do giá trị cổ phiếu giảm mạnh đã gây ra áp lực lớn đối với tổng cầu và tổng cung (GDP). Tốc độ tăng trưởng GDP thực bắt đầu suy giảm ở Mỹ và tại các 6 quốc gia khác trong năm 2007, trong khi tại các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Á, tăng trưởng vẫn tiếp tục mạnh mẽ cho đến khi cuộc khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ lan rộng vào cuối năm 2008 thì mới bắt đầu suy giảm dần. Kết quả năm 2009 cho thấy nhiều xu hướng đối ngược, một mức tăng trưởng âm 4% tại các nền kinh tế phát triển và sự cắt giảm đáng kể tỷ lệ tăng trưởng tại các nền kinh tế đang phát triển từ 8% năm 2007 xuống còn 2% năm 2009. Khó khăn của nền kinh tế thế giới đang tiếp tục kéo dài từ các năm trước sang năm 2012.
Kinh tế toàn cầu chưa thoát khỏi đợt suy thoái kép, tăng trưởng kinh tế đang diễn ra chậm hơn so với cuối năm 2011. Khủng hoảng nợ công Châu Âu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường. Niềm tin về sự phục hồi của Mỹ cũng đang yếu dần bởi những khó khăn của nền kinh tế và sản xuất trì trệ diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới. Nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, nhiều nước đã bơm tiền vào hệ thống ngân hàng hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ.Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam Tại Việt Nam, chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2011 đã khiến cho tăng trưởng kinh tế chậm lại trong năm 2012.
Lạm phát, lãi suất cao, sản xuất suy giảm do tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồn kho tăng gây sức ép cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính Phủ đề ra mục tiêu trong nghị quyết 01/NQ-CP ngày 3/1/2012 và Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 là : “Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, từng bước thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế”. Các biện pháp, chính sách tài khóa, tiền tệ đã được áp dụng và đang đạt được những thành công nhất định: lạm phát được kiềm chế; kinh tế ổn định; dự trữ ngoại tệ tăng gấp đôi; thu ngân sách ổn định; giảm nhập siêu. Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn; sức mua của thị trường giảm; nền kinh tế tuy có tăng trưởng nhưng tốc độ tăng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011.
Theo bộ Kế hoạch và Đầu tư, trên 50.000 doanh nghiệp phá sản từ đầu năm 2011 đến cuối quý 1/2012. Thua lỗ lớn tại 7 Vinalines, Vinashin, EVN, tổng công ty ximăng Việt Nam Vicem, tập đoàn Sông Đà, TKV… càng khiến cho nền kinh tế Việt Nam dễ lún sâu vào tình trạng đình đốn hơn bao giờ hết. Tình trạng suy giảm kinh tế toàn cầu khiến cho dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có dấu hiệu giảm sút. Thu hút đầu tư nước ngoài từ đầu năm 2012 đến 20/4/2012 chỉ bằng 68,5% so với cùng kỳ năm trước, vốn thực hiện giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước.
Sự sụt giảm nhu cầu tại nhiều nước trên thế giới và giá, đã khiến cho xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam bị giảm mạnh trong bốn tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm trước, như dầu thô giảm 3,1%; cà phê giảm 7,9%; cao su giảm 8,3%; than đá giảm 12,2%; gạo giảm 27,8%… Cùng với sư suy thoái kinh tế cả trong và ngoài nước, từ cuối năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam đã suy giảm mạnh. Chỉ số VN Index từ mức đỉnh là 1.170,67 điểm vào ngày 12/3/2007, giảm xuống mức thấp nhất là 245 điểm vào đầu năm 2009. Sau đó thị trường có sự hồi phục lên mức trên 600 điểm vào đầu năm 2010. Từ đó đến nay, chỉ số này dao động trong biên độ từ 400 đến 600 điểm với mức thanh khoản thấp và giá trị giao dịch giảm mạnh.
Theo tổng hợp của Công ty cổ phần chứng khoán An Bình, tính đến hết 11/7/2012, toàn thị trường có 457 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ (57%) có giá dưới mệnh giá (10. Trong bối cảnh đó, nhiều công ty niêm yết đã bị thôn tính, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp, niềm tin của công chúng đầu tư bị suy giảm, các công ty chứng khoán và quản lý quỹ bị thua lỗ nặng. Hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối cảnh đó cũng rất khó khăn. Việc suy giảm của thị trường đã có những tác động đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán cả về mặt tích cực và mặt tiêu cực.
Tác động tiêu cực Thị trường chứng khoán suy giảm đồng nghĩa với việc giá trị giao dịch trên thị trường giảm, doanh thu của các công ty chứng khoán từ đó cũng giảm theo, trong khi chi phí hoạt động ngày càng tăng, đã làm nhiều công ty rơi vào tình trạng thua lỗ, tác 8 động mạnh tới sự phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán, cụ thể: Thứ nhất, các công ty phải thu hẹp hoạt động kinh doanh bằng cách đóng cửa các chi nhánh, phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự. Trong 6 tháng đầu năm 2012, mạng lưới của các CTCK có xu hướng bị thu hẹp lại, đã có 10 chi nhánh, 7 phòng giao dịch đóng cửa, trong khi chỉ có 3 chi nhánh và 2 phòng giao dịch được mở mới, tổng số chi nhánh hiện tại là 135 và 73 phòng giao dịch. Nhiều công ty đã không còn nguồn lực để duy trì hoạt động của công ty, buộc phải từ bỏ bớt các nghiệp vụ kinh doanh, từ đó thay đổi hoàn toàn chiến lược kinh doanh dài hạn, thậm chí có những công ty buộc phải dừng hoạt động. Thứ hai, sự mất vốn kinh doanh khiến nhiều công ty chứng khoán có nguy cơ bị thâu tóm bởi các doanh nghiệp, tổ chức khác có tiềm lực hơn.
Thị trường chứng khoán suy giảm đã khiến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán trở nên rẻ hơn nhiều so với trước đây, việc sở hữu một công ty chứng khoán nhỏ hoặc trung bình trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Do vậy thời gian qua đã xuất hiện nhiều thương vụ thâu tóm cổ phiếu của các công ty chứng khoán một cách âm thầm, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài. Nếu các công ty không chủ động phòng ngự, việc bị mất tỷ lệ cổ phần chi phối sẽ khiến các lãnh đạo công ty mất khả năng kiểm soát, ảnh hưởng toàn bộ đến phát triển kinh doanh của công ty. Thứ ba, vấn đề về rủi ro và đạo đức nghề nghiệp.
Thị trường chứng khoán suy giảm đã khiến áp lực kinh doanh với các lãnh đạo công ty chứng khoán tăng lên. Để đạt được các chỉ tiêu lợi nhuận, nhiều lãnh đạo các công ty đã chấp nhận thực hiện các nghiệp vụ trái qui định như xây kho hàng bán khống, cho vay kí quỹ với tỷ lệ cao, cạnh tranh về hoa hồng môi giới để lôi kéo nhân viên… Điều này đã khiến rủi ro trong hoạt động của các công ty chứng khoán là rất lớn. Bên cạnh đó, những kẽ hở trong qui trình hoạt động, các qui định còn đơn giản của pháp luật, nhiều nhân sự công ty chứng khoán đã lợi dụng khách hàng, thực hiện mua bán trên tài khoản của khách, gây thiệt hại lớn cho nhiều khách hàng. Các vấn đề này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của các nhà đầu tư, uy tín công ty, tác động 9 tiêu cực tới việc phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán.
Tác động tích cực Sự suy giảm của thị trường chứng khoán đã tác động lớn tới hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam. Bên cạnh những mặt tiêu cực, sự suy giảm của thị trường đã tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh, buộc các công ty muốn tồn tại phải tự cải tổ, thay đổi theo hướng phát triển lành mạnh, chuyên nghiệp hơn.