Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở LÀO VÀ NƯỚC NGOÀI 1. Những nghiên cứu của các học giả Lào - Phongtisouk Siphomthaviboun (2010), trong bài viết <CHDCND Lào: Chính sách kinh tế đối ngoại thúc đẩy phát triển kinh tế”, [36] đã nhấn mạnh chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại là hướng đi đúng đắn của Lào, đồng thời, khái quát những thành tựu đạt được trong kinh tế đối ngoại của Lào. Bên cạnh đó, tác giả cho rằng, trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, xu thế toàn cầu hóa tác động lớn đến độc lập dân tộc của mỗi quốc gia, vì thế, Lào cần đánh giá đầy đủ bối cảnh, xây dựng đối sách tham gia toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thực thi có hiệu quả kinh tế đối ngoại nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài trong xây dựng, phát triển đất nước.
- Chương Xombunkhan (2013), trong bài viết <Tích cực tiến hành sự nghiệp đổi mới ở Lào” [3], tác giả đã đề cập tới một số vấn đề chủ yếu trong công cuộc đổi mới ở Lào, những yếu tố tạo chuyển đổi trong nền kinh tế quốc dân, chuyển đổi hình thức và cơ chế quản lý kinh tế. Quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Lào - bên cạnh những thành tựu - cũng tạo ra nhiều thách thức, đưa đến sự lệ thuộc của Lào vào các đối tác nước ngoài. Theo tác giả, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế là một chủ trương, giải pháp hiệu quả để bảo vệ độc lập dân tộc. - Khamphaeng Thipmuntaly (2013), trong bài viết <Phát triển nguồn nhân lực là một trong những yếu tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững ở Lào” [62], tác giả chỉ rõ thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Lào ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo tác giả, để hội nhập kinh tế hiệu quả, phát huy được nguồn lực quốc tế và giữ được độc lập, tự chủ, Lào cần có giải pháp nâng 8 cao chất lượng nguồn nhân lực, coi đây là khâu đột phá, cần chú trßng đầu tư để đáp ứng với yêu cầu của các chương trình hợp tác giữa Lào với các quốc gia trong khu vực. Chỉ khi hội nhập hiệu quả thì độc lập dân tộc mới được giữ vững và củng cố trong thời đại toàn cầu hóa. - Xomphon Xichalon (2014), trong bài viết <Lào - Việt Nam: Mối quan hệ mẫu mực trong quan hệ quốc tế” [45], tác giả đi sâu phân tích về thành tựu và triển vßng của quan hệ hai nước Lào - Việt Nam trong bảo vệ độc lập dân tộc và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề cập đến các nhân tố tác động đến quan hệ Lào - Việt Nam trong bối cảnh hai nước cùng thực thi đường lối đổi mới, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.
Theo tác giả, trước sự tác động của các yếu tố khu vực và toàn cầu, Lào cần phải định hình những giá trị, mục tiêu của bảo vệ độc lập dân tộc - không có nghĩa là tách biệt với thế giới mà phải tham gia có hiệu quả vào các vấn đề khu vực và toàn cầu, từ đó gia tăng vai trò và các mối liên kết trên cơ sở lợi ích. Đây chính là phương cách hữu hiệu để củng cố độc lập dân tộc cho Lào và tăng cường hiệu quả quan hệ hữu nghị, hợp tác Lào - Việt hiện nay. - Kham Keng Sengmilathy (2015), trong bài viết <Hoạt động đối ngoại góp phần vào sự nghiệp phát triển của CHDCND Lào” [25]. Trong bài viết này, tác giả đã trình bày vai trò chính sách đối ngoại của Lào trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh, đối ngoại và hợp tác song phương đối với ASEAN và các quốc gia thành viên.
Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng cần phải thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hợp tác và phát triển là đối sách hiệu quả nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và hội nhập quốc tế. - Bousavang Xaysane (2016), trong công trình nghiên cứu <Hợp tác an ninh chính trị Lào - Việt Nam sau Chiến tranh Lạnh: Thực trạng và những vấn đề đặt ra cho Lào” [2], tác giả cho rằng quan hệ ngoại giao Lào - Việt Nam là mối quan hệ ruột thịt, trong đó, hợp tác an ninh - chính trị Lào - Việt Nam là 9 yếu tố nổi bật và là vấn đề trßng yếu trong quan hệ Lào - Việt bởi tính chất lịch sử dựng nước và giữ nước của hai dân tộc. Đồng thời, tác giả điểm lại lịch sử hợp tác chính trị - an ninh Lào - Việt Nam thời gian qua và đưa ra một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy, củng cổ mối quan hệ hợp tác thời gian tới. Bài viết cũng đề cập đến một số vấn đề về tăng cường hợp tác kinh tế với các nước bạn bè truyền thống như Việt Nam, coi đây là phương hướng quan trßng để củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Lào có hiệu quả.
- Soulatphone Boumnaphet (2019), trong bài viết “Hợp tác giáo dục Lào - Việt từ năm 2011 đến nay: Thực trạng và giải pháp= [39], tác giả cho rằng kể từ năm 2011 đến nay, khi Đề án Nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Lào - Việt trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020 được ký kết và triển khai sâu rộng đến từng cơ quan, đơn vị, bộ, ban, ngành và các địa phương của hai nước thì hợp tác giáo dục song phương Lào - Việt đạt được những chuyển biến tích cực; ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả thiết thực về cả số lượng, chất lượng đào tạo cũng như chương trình, giáo trình, cơ sở vật chất hạ tầng giáo dục. Tuy nhiên, sự hợp tác giáo dục song phương vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định, cần có những giải pháp toàn diện nhằm cải thiện, xây dựng ngành giáo dục thực sự trở thành điểm sáng trong quan hệ truyền thống đặc biệt Lào - Việt. - Vanalat Chayyavong (2020), trong bài viết <Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của CHDCND Lào trong giai đoạn 2011-2020” [64], tác giả đã phân tích thành tựu, hạn chế của mô hình phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phi thị trường và tính tất yếu phải cải cách, đổi mới, mở cửa để phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Thực chất của cải cách, đổi mới là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới.
Sự cải cách và đổi mới này tạo ra sự thay đổi căn bản trong con đường, mô 10 hình phát triển kinh tế của Lào, góp phần đưa nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định, gia tăng tiềm lực cho các hoạt động bảo vệ độc lập dân tộc. Nghiên cứu của các học giả người nước ngoài - Hatthachan Phimphanthavong (2012), trong bài viết Economic Reform and Regional Development of Laos (tạm dịch: Cải cách kinh tế và phát triển vùng của Lào), đăng trên Tạp chí Modem Economy [79] (Nền kinh tế hiện đại), tác giả cũng chỉ ra những tác động của việc chuyển đổi nền kinh tế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo cơ chế kinh tế mới. Theo đó, cải cách kinh tế đã có những tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế vùng, địa phương của Lào như sự tăng trưởng nhanh hơn ở thành phố lớn với cơ sở hạ tầng tốt hơn, sau đó là tăng trưởng từ trung ương đến nông thôn bằng cách cải thiện cơ sở hạ tầng và mạng lưới thông tin; giúp đất nước mở rộng tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút được nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài; phát triển thành công mối quan hệ thân thiết với các quốc gia trong khu vực, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, đặc biệt là ASEAN. - Leeber Leebouapao (2014), trong cuốn sách Opportunities and Challenges of Lao PDR ’s Integration in to ASEAN Economic Community (AEC) by and after 2015 (tạm dịch: Cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập của CHDCND Lào vào Cộng đồng kinh tế các nước ASEAN (AEC) trước và sau năm 2015) [81], đã phân tích về vị trí, vai trò của Lào trong ASEAN hiện nay xét theo khía cạnh thương mại, đầu tư, lao động di cư và du lịch.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những đánh giá về tác động của AEC sau 2015 trên hai phương diện cơ hội và thách thức - đối với quá trình hội nhập kinh tế của Lào. Đáng chú ý, trong cuốn sách này, tác giả đã nêu ra một số gợi ý chính sách mà Lào có thể tham khảo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các tác giả cho rằng, nền kinh tế Lào phụ thuộc nhiều vào việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẵn có. Tuy nhiên, về dài hạn, để đối phó với hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Lào cần phải nghiên cứu và chuyển sang mô hình phát triển mới - phát triển một nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, mở rộng du lịch sinh thái nhằm bảo tồn tài nguyên và bản sắc văn hóa của mình.
Bài báo cáo đề xuất giải pháp Lào cần phải tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ bên ngoài để thay đổi mô hình phát triển kinh tế theo hướng bền vững. - Simon Creak &Keith Barney (2018), trong công trình nghiên cứu <Conceptualising Party-State Governance and Rule in Laos= [87] (tạm dịch: Khái niệm hóa quản trị và cai trị của Đảng-Nhà nước ở Lào) đã trình bày thực trạng chính trị - thể chế, văn hóa - lịch sử của Lào. Đặc biệt, các tác giả đã đề cập đến đặc điểm của chế độ chính trị ở Lào, vai trò của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong so sánh với hệ thống chính trị các nước với khu vực. Trong bài viết này, các tác giả cho rằng, với hệ thống chính trị đặc thù đã quy định nội hàm của vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc chính là bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng nhân dân Cách mạng Lào và chế độ chính trị của Lào, coi đây là cơ sở, điểm xuất phát để triển khai các hoạt động có liên quan đến bảo vệ độc lập dân tộc trong bối cảnh hiện nay.