Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9.01) của tác giả Phạm Hải Nam, được bảo vệ tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của TSKH. Nguyễn Ngọc Thạch và TS. Hà Văn Dũng, tập trung giải quyết vấn đề khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam dưới tác động của chu kỳ kinh tế toàn cầu.
Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ vai trò huyết mạch của hệ thống ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế Việt Nam – nơi thị trường chứng khoán chưa đáp ứng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ yếu. Hoạt động ngân hàng chịu sự chi phối mạnh mẽ từ các chu kỳ kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khởi phát từ thị trường cho vay bất động sản dưới chuẩn tại Mỹ năm 2007 đã chạm đáy vào năm 2009 với mức tăng trưởng GDP thế giới suy giảm xuống -0,1% (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF) hoặc -1,67% (theo Ngân hàng Thế giới - WB). Đối với Việt Nam, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,6% giai đoạn 2000 – 2007 đã giảm xuống 5,7% năm 2008 và 5,4% năm 2009; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm từ 11,5 tỷ USD năm 2008 xuống 10 tỷ USD năm 2009; cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng ở mức 18 tỷ USD (2008), 12,9 tỷ USD (2009) và 12,6 tỷ USD (2010); tỷ lệ lạm phát biến động phức tạp từ 8,3% (2007) vọt lên 22,97% (2008), hạ xuống 6,88% (2009) rồi tăng trở lại 18,58% (2011). Sự triển khai gói kích thích kinh tế năm 2009 đã kích thích tăng trưởng tín dụng nóng, tạo bong bóng tài sản và để lại hệ lụy nợ xấu tăng cao, rủi ro thanh khoản kéo dài, buộc Ngân hàng Nhà nước phải tái cấu trúc hệ thống thông qua sáp nhập và mua lại bắt buộc với giá 0 đồng.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây tại Việt Nam chỉ đo lường tác động tức thời tại đáy khủng hoảng bằng biến giả cho hai năm 2008 – 2009, chưa đánh giá trọn vẹn cả chu kỳ khủng hoảng dưới tác động của chính sách kích cầu (2007 – 2011) đặt trong sự so sánh tương quan với giai đoạn hậu khủng hoảng (2012 – 2018). Đồng thời, các nghiên cứu trước chủ yếu sử dụng thống kê tần suất truyền thống vốn tồn tại các nhược điểm về nội sinh, tự tương quan và giả định tham số là hằng số cố định.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, so sánh các mối quan hệ này với thời kỳ hậu khủng hoảng.
Hệ thống mục tiêu cụ thể gồm bốn nội dung:
- Nghiên cứu nhận diện các yếu tố kinh tế vi mô tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong các giai đoạn của chu kỳ kinh tế: bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và so sánh với thời kỳ hậu khủng hoảng.
- Nghiên cứu nhận diện yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và so sánh với thời kỳ hậu khủng hoảng.
- Phân tích sự khác biệt về khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới so với thời kỳ hậu khủng hoảng.
- Gợi ý các giải pháp điều chỉnh khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng và thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, cung cấp kênh tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý trong việc tăng cường hiệu quả tài chính và phát triển vững chắc hệ thống ngân hàng.
Luận án đặt ra bốn câu hỏi nghiên cứu tương ứng:
- Các yếu tố kinh tế vi mô nào có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới? Chiều hướng tác động như thế nào? Có sự khác biệt như thế nào khi so sánh chiều hướng tác động trong thời kỳ khủng hoảng với chiều hướng tác động trong thời kỳ hậu khủng hoảng?
- Các yếu tố kinh tế vĩ mô nào có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại trong bối cảnh khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới? Chiều hướng tác động như thế nào? Có sự khác biệt như thế nào khi so sánh chiều hướng tác động trong thời kỳ khủng hoảng với chiều hướng tác động trong thời kỳ hậu khủng hoảng?
- Sự khác biệt như thế nào về khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được trong thời kỳ khủng hoảng so với thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế thế giới?
- Giải pháp nào nhằm điều chỉnh khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại và phát triển vững chắc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới?
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, sự so sánh chiều hướng tác động giữa hai thời kỳ, và tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến khả năng sinh lời.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: 30 ngân hàng thương mại tại Việt Nam, chiếm xấp xỉ 86% tổng tài sản của toàn hệ thống ngân hàng thương mại tại thời điểm ngày 31/12/2018 (thời điểm toàn hệ thống có 35 ngân hàng thương mại gồm 31 ngân hàng cổ phần và 4 ngân hàng 100% vốn nhà nước).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2007 – 2018, được phân chia thành hai thời kỳ: giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới (2007 – 2011, tính đến độ trễ bất ổn kinh tế vĩ mô và gói kích cầu) và giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới (2012 – 2018).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại và tác động của khủng hoảng kinh tế theo hai nhóm kết quả trái chiều:
Nhóm nghiên cứu kết luận khủng hoảng kinh tế tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời:
- Sufian (2011) khảo sát các ngân hàng thương mại Hàn Quốc giai đoạn 1992 – 2003, ghi nhận khủng hoảng tài chính châu Á làm giảm khả năng sinh lời.
- Amba và Almukharreq (2013) nghiên cứu các ngân hàng thương mại thông thường và Hồi giáo tại các nước vùng Vịnh giai đoạn 2006 – 2013, xác định tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính lên hiệu quả sinh lời.
- Pawlowska (2016) nghiên cứu hệ thống ngân hàng Ba Lan giai đoạn 1997 – 2012, chỉ ra khả năng sinh lời sụt giảm nhẹ trong giai đoạn khủng hoảng so với thời kỳ trước khủng hoảng.
- Andries và cộng sự (2016) phân tích các ngân hàng Đông và Tây Âu giai đoạn 2004 – 2013, khẳng định tác động tiêu cực rõ nét của khủng hoảng tài chính.
- Mongid (2016) nghiên cứu các ngân hàng Hồi giáo khu vực Trung Đông và Bắc Phi giai đoạn 2003 – 2011, chỉ ra khủng hoảng tài chính làm suy giảm lợi nhuận.
- Tại Việt Nam, Le (2017) khảo sát 40 ngân hàng thương mại giai đoạn 2005 – 2015 với biến giả cho hai năm 2008 – 2009, tìm thấy tác động tiêu cực của khủng hoảng lên khả năng sinh lời. Nguyễn Anh Tú và Phạm Trí Nghĩa (2019) nghiên cứu 27 ngân hàng thương mại giai đoạn 2005 – 2017, chỉ ra tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) giảm khoảng 1,5 lần trong giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2009 so với thời kỳ ổn định.
Nhóm nghiên cứu kết luận khủng hoảng kinh tế tác động tích cực đến khả năng sinh lời:
- Chronopoulos và cộng sự (2015) sử dụng phương pháp GMM trên mẫu các ngân hàng Mỹ có tổng tài sản từ 10.000 USD trở lên, chỉ ra khả năng sinh lời trong khủng hoảng tốt hơn giai đoạn thông thường.
- Kamarudin và cộng sự (2016) nghiên cứu ngân hàng nhà nước và tư nhân tại Bangladesh giai đoạn 2004 – 2011, chỉ ra trong khủng hoảng, hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng nhà nước tăng 3,7%, ngân hàng tư nhân tăng 5,8%, nhưng sang giai đoạn sau khủng hoảng lại giảm lần lượt 38,7% và 9,9%.
Các công trình thực nghiệm khác về các yếu tố quyết định khả năng sinh lời được tác giả điểm lại gồm: Petria và cộng sự (2013) tại khối EU (2004 – 2011); Kohlscheen và cộng sự (2018) tại 19 thị trường mới nổi; Iacobelli (2016) trên 26 ngân hàng toàn cầu (1980 – 2015); Yao và cộng sự (2018) tại Pakistan (2007 – 2016); Rahman và cộng sự (2015) tại Bangladesh (2006 – 2013); Gaber (2018) tại Palestine (1995 – 2015); Zhang và Dong (2011) tại Mỹ (2000 – 2008); Alexiou và Sofoklis (2009) tại Hy Lạp (2000 – 2007); Ndoka và cộng sự (2016) tại Albania (2005 – 2015); Lee và Isa (2017) tại Malaysia (2008 – 2014); Bassey và Moses (2015) tại Nigeria.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Giải thích sự bất đồng thuận trong y văn: Khi đánh giá tác động tức thời tại tâm điểm suy thoái, tác động của khủng hoảng thường mang tính tiêu cực; tuy nhiên, khi đánh giá trên toàn bộ giai đoạn có tính đến can thiệp kích thích kinh tế của chính phủ, kết quả có thể chuyển biến tích cực. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách mở rộng khung thời gian khủng hoảng tại Việt Nam sang giai đoạn 2007 – 2011, đồng thời đặt đối chiếu trực diện với thời kỳ hậu khủng hoảng 2012 – 2018.
- Khắc phục hạn chế về mặt phương pháp lượng giác truyền thống: Các nghiên cứu trước sử dụng các phương pháp thống kê tần suất (OLS, FEM, REM, FGLS, GMM), vốn xem tham số là hằng số cố định và phụ thuộc nhiều vào quy mô mẫu lớn. Luận án định vị tính mới bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes kết hợp thuật toán lấy mẫu Gibbs để đưa ra suy diễn thống kê vững chắc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên sự giao thoa giữa lý thuyết chu kỳ kinh tế, khủng hoảng kinh tế và các lý thuyết về khả năng sinh lời ngân hàng:
- Lý thuyết chu kỳ và khủng hoảng kinh tế: Tác giả điểm lại quan điểm chu kỳ bốn giai đoạn của kinh tế chính trị Marx-Lenin (khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi, hưng thịnh); chu kỳ của Burns và Mitchell (1946); mô hình ba giai đoạn của Samuelson và Nordhaus (2007); quan điểm của Gordon (1994), Begg và cộng sự (2007), Pasko và cộng sự (2020), Aksoy (2015). Luận án vận dụng định nghĩa của Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ (NBER, 2010), xác định khủng hoảng là tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng, kéo dài và gắn liền với biến động lạm phát hoặc suy giảm các chỉ số vĩ mô. Về nguyên nhân khủng hoảng, luận án tổng thuật lý thuyết mâu thuẫn nội tại của tư bản (Marx, 1894), khủng hoảng sản xuất thừa (Sismondi, 1819; Malthus, 1820; Rodbertus, 1850), lý thuyết tổng cầu và sự can thiệp của chính phủ (Keynes, 1936), trường phái tân cổ điển, và lý thuyết bất ổn tài chính của Hyman Minsky (1975). Lý thuyết Minsky đóng vai trò trọng tâm khi phân tích ba trạng thái tài trợ: tài chính phòng vệ (hedge finance), tài chính đầu cơ (speculative finance) và tài chính Ponzi (Ponzi finance), giải thích cơ chế chuyển dịch từ tích tụ rủi ro tín dụng sang khủng hoảng thanh khoản ("khoảnh khắc Minsky").
- Lý thuyết về khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động: Khái niệm khả năng sinh lời được kế thừa từ Hofstrand (2009), Asika và cộng sự (2017), Harward và Upton (1953), Olalekan và Adeyinka (2013). Các quan điểm đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng dựa trên Farrell (1957) cùng các cách tiếp cận đầu vào – đầu ra: tiếp cận trung gian tài chính (Sealey & Lindley, 1977), tiếp cận sản xuất (Mester, 1987), tiếp cận giá trị gia tăng (Berger & DeYoung, 1997; Hancock, 1985; Frexias, 2009; Leightner & Lovell, 1998). Về lý thuyết giải thích khả năng sinh lời, luận án kết hợp:
- Lý thuyết quyền lực thị trường (Market Power - MP): bao gồm giả thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP) khởi xướng bởi Chamberlin (1933), Robinson (1933), VanHoose (2010), Lloyd-Williams và cộng sự (1994), Molyneux (1993); và giả thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP) của Smirlock (1985), Maudos và de Guevara (2007).
- Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure - ES): đề xuất bởi Demsetz (1973), Anyanwaokoro (1996), Olweny và Shipho (2011), gồm hai nhánh tiếp cận là hiệu quả X (X-Efficiency: Berger, 1995; Muharrami & Matthews, 2009) và hiệu quả quy mô (Scale-Efficiency: Jayaratne & Strahan, 1998).
- Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời: Luận án sử dụng hai thước đo phụ thuộc:
- Lợi nhuận trên tổng tài sản ($ROA = \text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Tổng tài sản}$).
- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ($ROE = \text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Vốn chủ sở hữu}$).
Tác giả loại trừ chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) vì NIM chỉ đo lường hiệu quả từ mảng tín dụng truyền thống, không bao quát được mảng thu nhập phi tín dụng đang được định hướng mở rộng theo chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.
- Kênh truyền dẫn tác động của khủng hoảng: Luận án phân tích ba kênh tác động chính: (1) suy giảm kinh tế vĩ mô làm co hẹp tổng cầu và gia tăng lạm phát; (2) gia tăng rủi ro tín dụng và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (Kosmidou & cộng sự, 2005; Athanasoglou & cộng sự, 2008; Ayaydin & Karakaya, 2014; Trần Thị Thanh Nga, 2018); (3) gia tăng rủi ro thanh khoản dẫn tới việc bán tháo tài sản và đóng băng thanh khoản (Ủy ban Basel, 2003; Osborne & cộng sự, 2012; Brunnermeier & Pedersen, 2008).
Phương pháp nghiên cứu:
- Tiếp cận phân tích định tính kết hợp định lượng theo thống kê Bayes. Suy luận Bayes xem các tham số hồi quy là các biến ngẫu nhiên tuân theo một quy luật phân phối xác suất tiên nghiệm (prior distribution) kết hợp với dữ liệu mẫu để hình thành phân phối hậu nghiệm (posterior distribution) (van de Schoot & Depaoli, 2014; Bolstad & Curran, 2016; Nguyễn Ngọc Thạch, 2019). Phương pháp này giải quyết các khuyết tật của thống kê tần suất truyền thống và không bị phụ thuộc vào kích thước mẫu lớn (Baldwin & Fellingham, 2013; Depaoli & van de Schoot, 2016).
- Kỹ thuật tính toán: Thuật toán mô phỏng chuỗi Markov Monte Carlo (MCMC) thông qua thuật toán lấy mẫu Gibbs và thuật toán Metropolis-Hastings.
- Kiểm định chẩn đoán mô hình: Kiểm tra tính dừng và hội tụ của các chuỗi MCMC bằng biểu đồ hàm tự tương quan (Autocorrelation) và chỉ số kích thước mẫu hiệu quả (Effective Sample Size - ESS). Đồng thời, tác giả thực hiện hồi quy đối chứng bằng mô hình GMM hệ thống (System GMM - SGMM).
- Dữ liệu nghiên cứu: Báo cáo tài chính kiểm toán giai đoạn 2007 – 2018 của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam kết hợp các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thu thập từ Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam vừa bước vào quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng thì chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008. Chương này xác định rõ các mốc dữ liệu vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn biến động: suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, thâm hụt thương mại và lạm phát biến động hai chữ số. Tác giả xác lập bốn mục tiêu cụ thể, bốn câu hỏi nghiên cứu, phạm vi khảo sát 30 ngân hàng thương mại (chiếm 86% tổng tài sản toàn hệ thống năm 2018) và phân kỳ thời gian thành hai pha: 2007 – 2011 (khủng hoảng) và 2012 – 2018 (hậu khủng hoảng). Chương 1 cũng khái quát sáu điểm đóng góp mới về mặt khoa học, thực tiễn và cấu trúc năm chương của toàn văn luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại
Chương 2 thiết lập khung khổ lý thuyết nền tảng cho luận án. Tác giả phân tích các khái niệm chu kỳ kinh tế và lựa chọn định nghĩa của NBER (2010); hệ thống hóa các trường phái lý thuyết từ Marx, kinh tế học cổ điển, trường phái Keynes, tân cổ điển đến lý thuyết bất ổn tài chính của Hyman Minsky. Tiếp đó, chương này phân tích khái niệm khả năng sinh lời và hiệu quả kinh doanh ngân hàng theo các lý thuyết quyền lực thị trường (SCP, RMP) và cấu trúc hiệu quả (X-efficiency, Scale-efficiency); luận chứng cơ sở sử dụng hai chỉ tiêu ROA và ROE. Cuối cùng, chương 2 tổng thuật toàn diện các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và tại Việt Nam, phân định các luồng bằng chứng về tác động của rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khủng hoảng kinh tế lên khả năng sinh lời, chỉ ra khoảng trống về mặt thời gian đánh giá và phương pháp luận ước lượng.
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả làm rõ nguyên lý của suy luận Bayes, quy tắc Bayes và thuật toán lấy mẫu Gibbs kết hợp Metropolis-Hastings. Quy trình nghiên cứu được chuẩn hóa qua các bước xác định phân phối tiên nghiệm, chạy chuỗi MCMC, kiểm định tính hội tụ thông qua biểu đồ tự tương quan và chỉ số ESS. Tác giả xây dựng các mô hình hồi quy tuyến tính đánh giá tác động của các biến vi mô và vĩ mô lên ROA và ROE trong từng giai đoạn và toàn bộ thời kỳ 2007 – 2018.
Bảng tổng hợp các biến nghiên cứu được thiết kế trong chương 3:
| Ký hiệu biến |
Tên biến |
Vai trò |
Đo lường / Diễn giải |
| ROA |
Lợi nhuận trên tổng tài sản |
Biến phụ thuộc |
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản |
| ROE |
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu |
Biến phụ thuộc |
Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu |
| SIZE |
Quy mô ngân hàng |
Biến độc lập vi mô |
Logarit tự nhiên của tổng tài sản |
| CAP |
Vốn ngân hàng |
Biến độc lập vi mô |
Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản |
| LLP |
Dự phòng rủi ro tín dụng |
Biến độc lập vi mô |
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng / Tổng dư nợ cho vay |
| LOAN |
Dư nợ cho vay |
Biến độc lập vi mô |
Tổng dư nợ cho vay khách hàng / Tổng tài sản |
| LIQ |
Tài sản thanh khoản |
Biến độc lập vi mô |
Tài sản có tính thanh khoản cao / Tổng tài sản |
| OPE |
Chi phí hoạt động |
Biến độc lập vi mô |
Chi phí hoạt động / Tổng thu nhập hoạt động (hoặc Tổng tài sản) |
| INT |
Chi phí trả lãi |
Biến độc lập vi mô |
Chi phí trả lãi / Tổng nợ phải trả (hoặc Tổng huy động) |
| GDP |
Tăng trưởng kinh tế |
Biến độc lập vĩ mô |
Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội hàng năm |
| INF |
Lạm phát |
Biến độc lập vĩ mô |
Tỷ lệ lạm phát hàng năm |
| CRISIS |
Khủng hoảng kinh tế |
Biến bối cảnh / phân kỳ |
Phân định thời kỳ 2007 – 2011 và 2012 – 2018 |
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm, trình bày kết quả ước lượng từ mô hình hồi quy Bayes qua các chuỗi MCMC:
- Giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới (2007 – 2011): Thống kê mô tả và ma trận tương quan chỉ ra các biến số có sự biến thiên lớn. Kết quả hồi quy Bayes cho hai biến phụ thuộc ROA và ROE đạt độ hội tụ vững chắc, các biểu đồ tự tương quan giảm nhanh về 0 và kích thước mẫu hiệu quả (ESS) đạt mức yêu cầu.
- Giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới (2012 – 2018): Các chuỗi MCMC tiếp tục được kiểm định hội tụ. Kết quả hồi quy cho thấy sự thay đổi rõ nét trong cơ chế dẫn truyền của một số yếu tố nội tại ngân hàng.
- So sánh tác động của các yếu tố giữa hai giai đoạn:
- Các yếu tố duy trì chiều hướng tác động ổn định: Quy mô ngân hàng (SIZE), vốn ngân hàng (CAP), dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) và dư nợ cho vay (LOAN) giữ nguyên chiều hướng tác động lên khả năng sinh lời ở cả hai thời kỳ cũng như toàn bộ chu kỳ 2007 – 2018.
- Các yếu tố đảo chiều tác động: Tài sản thanh khoản (LIQ) và chi phí hoạt động (OPE) có chiều hướng tác động thay đổi khi so sánh giữa thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng.
- Các yếu tố vĩ mô và chi phí vốn: Chi phí trả lãi (INT), lạm phát (INF) và tăng trưởng GDP có tác động nhất định đến khả năng sinh lời nhưng mức độ và chiều hướng tác động có sự phân hóa giữa hai thước đo ROA và ROE.
- Tác động tổng thể của khủng hoảng kinh tế thế giới: Cả phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes và mô hình đối chứng SGMM đều cung cấp bằng chứng thống kê cho thấy khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng (2007 – 2011) đạt mức cao hơn so với giai đoạn hậu khủng hoảng (2012 – 2018). Tác giả lý giải phát hiện này gắn liền với hiệu ứng từ gói kích cầu năm 2009 của Chính phủ làm tín dụng tăng trưởng nóng, dẫn đến doanh thu và lợi nhuận sổ sách tăng cao trong ngắn hạn; trong khi giai đoạn 2012 – 2018 hệ thống ngân hàng bước vào thời kỳ tái cấu trúc, xử lý nợ xấu tồn đọng, tăng trích lập dự phòng rủi ro và tuân thủ các chuẩn mực an toàn khắt khe hơn khiến khả năng sinh lời sụt giảm.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách để các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được khả năng sinh lời hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới
Chương cuối cùng tổng kết các kết luận thực nghiệm chính và đề xuất hai nhóm hàm ý chính sách chi tiết:
- Nhóm gợi ý đối với các ngân hàng thương mại: Tập trung thẩm định tín dụng thận trọng, không hạ chuẩn cho vay trong giai đoạn kích cầu; kiểm soát tỷ trọng cho vay ngắn hạn cân đối với nguồn vốn huy động ngắn hạn; cơ cấu lại nhân sự theo hướng chú trọng chất lượng và năng suất thay vì tuyển dụng ồ ạt; tăng cường đào tạo kỹ năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.
- Nhóm gợi ý đối với cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước): Xây dựng cơ chế cạnh tranh minh bạch trong việc gửi nguồn vốn ngân sách nhàn rỗi và Kho bạc Nhà nước; tăng cường giám sát mục đích sử dụng vốn vay kích cầu; thiết lập trần tăng trưởng tín dụng phù hợp cho từng tổ chức tín dụng; chuẩn bị kỹ lưỡng kịch bản điều hành vĩ mô trước các cuộc khủng hoảng tiềm tàng. Đồng thời, chương 5 trình bày hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu mở rộng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
Về mặt khoa học:
- Tiếp cận kết hợp giữa hệ thống lý thuyết về khả năng sinh lời ngân hàng với các lý thuyết chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế (đặc biệt là lý thuyết Minsky và lý thuyết can thiệp vĩ mô của Keynes) để thiết lập khung giả thuyết phân tích tác động vi mô, vĩ mô và bối cảnh chu kỳ lên khả năng sinh lời.
- Ứng dụng phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes thông qua thuật toán lấy mẫu Gibbs và kiểm định MCMC (ESS, Autocorrelation), mang lại hướng tiếp cận định lượng mới so với các phương pháp ước lượng tần suất truyền thống (FEM, REM, GMM), khắc phục được các vấn đề nội sinh, vi phạm giả định và không phụ thuộc vào quy mô mẫu lớn.
- Đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế trên toàn bộ giai đoạn 2007 – 2011 có xét đến độ trễ và tác động của gói kích cầu của Chính phủ, vượt qua hạn chế của các nghiên cứu trước đây vốn chỉ xem xét tại đáy khủng hoảng.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt trong chiều hướng tác động của các yếu tố nội tại giữa hai giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng; đồng thời kiểm định chéo tính nhất quán của kết quả thông qua việc so sánh đối chiếu giữa phương pháp Bayes và phương pháp SGMM.
Về mặt thực tiễn và hệ thống kiến nghị, giải pháp:
- Thứ nhất, trong giai đoạn Chính phủ thực hiện các gói kích thích kinh tế, các ngân hàng thương mại cần xem xét thận trọng khi thẩm định tín dụng, kiên quyết không hạ thấp tiêu chuẩn cho vay do tâm lý người vay giai đoạn này thường chủ quan trước các rủi ro tương lai; duy trì tỷ trọng cho vay ngắn hạn phù hợp với cơ cấu tiền gửi ngắn hạn huy động được.
- Thứ hai, các ngân hàng thương mại không nên mở rộng quy mô nhân sự ồ ạt trong thời kỳ kích cầu mà phải tập trung vào năng suất lao động, bố trí nhân sự phù hợp vị trí chuyên môn; định kỳ tổ chức các chương trình đào tạo nâng cao phẩm chất nghề nghiệp, trách nhiệm và thái độ của đội ngũ nhân viên và ban lãnh đạo.
- Thứ ba, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần tạo lập cơ chế cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng thương mại trong việc tiếp cận, huy động nguồn tiền gửi tạm thời nhàn rỗi từ Kho bạc Nhà nước và Ngân sách Nhà nước, chấm dứt tình trạng chỉ tập trung ưu tiên cho các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm cổ phần chi phối.
- Thứ tư, trong quá trình triển khai các chính sách hỗ trợ kinh tế, Ngân hàng Nhà nước phải tăng cường công tác thanh tra, giám sát chất lượng khoản vay và mục đích sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại; tránh việc nôn nóng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng quá cao vượt khỏi năng lực giám sát an toàn hệ thống.
- Thứ năm, cơ quan quản lý cần xác lập hạn mức tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hợp lý cho từng ngân hàng và cho toàn hệ thống trong thời kỳ khủng hoảng; nâng cao năng lực dự báo và chuẩn bị đầy đủ các kịch bản ứng phó vĩ mô trước các biến động chu kỳ trong tương lai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tự nêu rõ các giới hạn gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn về mẫu dữ liệu khảo sát gồm 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong khung thời gian từ năm 2007 đến năm 2018; chưa bao quát toàn bộ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoặc các ngân hàng có quy mô quá nhỏ do hạn chế về tính liên tục của dữ liệu công bố.
- Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời chỉ tập trung vào hai biến số kế toán truyền thống là ROA và ROE, chưa tích hợp tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) hoặc các phương pháp đo lường hiệu quả kỹ thuật phi tham số như hàm bao dữ liệu (DEA) hay phân tích biên ngẫu nhiên (SFA).
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi dữ liệu thời gian sang các năm tiếp theo sau 2018 để đánh giá khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại trong các bối cảnh bất ổn vĩ mô mới hoặc các biến động kinh tế toàn cầu phát sinh.
- Kết hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh ngân hàng bằng các mô hình biên hiệu quả (biên chi phí, biên lợi nhuận) song song với các chỉ số tài chính truyền thống để cung cấp góc nhìn đa chiều về năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị về quy trình ứng dụng kinh tế lượng Bayes trong nghiên cứu tài chính thực nghiệm. Cụ thể, các nội dung tại Chương 3 về thuật toán Gibbs, quy trình xây dựng chuỗi MCMC, cách thức đánh giá tính dừng bằng biểu đồ hàm tự tương quan và tính toán kích thước mẫu hiệu quả (ESS) cung cấp quy trình mẫu rõ ràng để triển khai các mô hình hồi quy tuyến tính phi tần suất.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính: Các phân tích tại Chương 4 và kiến nghị tại Chương 5 là cơ sở khoa học để đánh giá tác động phụ của các gói kích cầu tín dụng, cơ chế phân bổ hạn mức tín dụng và cơ chế điều tiết thanh khoản hệ thống trong các giai đoạn kinh tế suy thoái.
- Đối với ban lãnh đạo và các chuyên viên quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại: Các kết luận về sự đảo chiều tác động của biến tài sản thanh khoản (LIQ) và chi phí hoạt động (OPE) qua hai thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng cung cấp chỉ báo cụ thể để điều chỉnh chiến lược cân đối giữa khả năng thanh khoản, quản trị chi phí hoạt động và mục tiêu lợi nhuận trong từng pha của chu kỳ kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân định giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới và hậu khủng hoảng tại Việt Nam trong khung thời gian nào, căn cứ vào đâu?
Luận án phân chia thời gian nghiên cứu (2007 – 2018) thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới: 2007 – 2011. Căn cứ lựa chọn mốc thời gian này là do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu bộc lộ từ năm 2007, lan rộng và chạm đáy năm 2009. Tại Việt Nam, do Chính phủ triển khai gói kích cầu năm 2009 dẫn đến tín dụng tăng trưởng nóng, lạm phát vọt lên mức 18,58% vào năm 2011. Tác giả xác định nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng bất ổn kéo dài và chỉ thực sự vượt qua giai đoạn khủng hoảng sau năm 2011 khi tác dụng phụ của gói kích thích kinh tế đã bớt tác động.
- Giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới: 2012 – 2018, tương ứng với giai đoạn kinh tế vĩ mô dần ổn định và hệ thống ngân hàng bước vào quá trình tái cơ cấu toàn diện.
2. Vì sao luận án áp dụng phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes thay cho các phương pháp kinh tế lượng tần suất truyền thống?
Tác giả chuyển sang phương pháp Bayes vì các phương pháp tần suất truyền thống (OLS, FEM, REM, FGLS, GMM) tồn tại nhiều khuyết tật khi xử lý dữ liệu bảng như hiện tượng tự tương quan, nội sinh và đòi hỏi kích thước mẫu lớn mới đảm bảo tính vững. Hơn nữa, thống kê tần suất giả định các tham số tổng thể là các hằng số cố định, điều này không phù hợp với dữ liệu chuỗi thời gian khi tham số có sự thay đổi. Ngược lại, suy luận Bayes xem tham số là biến ngẫu nhiên tuân theo quy luật phân phối xác suất, kết hợp thông tin tiên nghiệm với dữ liệu quan sát thông qua một quy tắc xác suất duy nhất, đưa ra ước lượng chính xác mà không phụ thuộc vào độ lớn của mẫu.
3. Những yếu tố nào duy trì chiều hướng tác động ổn định lên khả năng sinh lời qua cả hai giai đoạn, và những yếu tố nào có sự đảo chiều?
- Bốn yếu tố duy trì chiều hướng tác động như nhau lên khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam ở cả hai giai đoạn (khủng hoảng, hậu khủng hoảng) và trong toàn bộ thời kỳ 2007 – 2018 gồm: Quy mô ngân hàng (SIZE), vốn ngân hàng (CAP), dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) và dư nợ cho vay (LOAN).
- Hai yếu tố có chiều hướng tác động thay đổi (đảo chiều) khi so sánh giữa thời kỳ khủng hoảng và thời kỳ hậu khủng hoảng gồm: Tài sản thanh khoản (LIQ) và chi phí hoạt động (OPE).
- Các yếu tố chi phí trả lãi (INT), lạm phát (INF) và tăng trưởng GDP có tác động nhưng chiều hướng phân hóa tùy theo từng chỉ tiêu sinh lời cụ thể (ROA hoặc ROE).
4. Khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng cao hơn hay thấp hơn giai đoạn hậu khủng hoảng, và nguyên nhân do đâu?
Kết quả ước lượng bằng cả phương pháp Bayes và mô hình đối chứng SGMM đều chỉ ra khả năng sinh lời (ROA, ROE) của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng (2007 – 2011) tốt hơn so với giai đoạn hậu khủng hoảng (2012 – 2018). Nguyên nhân là do trong giai đoạn 2007 – 2011, tác động từ gói kích thích kinh tế năm 2009 của Chính phủ thúc đẩy tăng trưởng tín dụng nóng và hình thành bong bóng giá tài sản, giúp các ngân hàng ghi nhận doanh thu và lợi nhuận sổ sách tăng cao. Ngược lại, sang giai đoạn 2012 – 2018, các hệ lụy nợ xấu bộc phát, các ngân hàng phải tập trung tái cơ cấu, xử lý tài sản xấu, tăng cường trích lập dự phòng và kiểm soát chặt chẽ an toàn vốn, dẫn đến khả năng sinh lời sụt giảm so với thời kỳ trước.
5. Tại sao tác giả chỉ sử dụng ROA và ROE mà không đưa chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) vào mô hình thực nghiệm?
Luận án chỉ sử dụng ROA và ROE làm biến phụ thuộc vì ROA phản ánh toàn diện năng lực của ban lãnh đạo trong việc sử dụng tổng tài sản để tạo thu nhập ròng, còn ROE đo lường tỷ suất sinh lời trên phần vốn góp của cổ đông. Chỉ tiêu NIM bị loại trừ vì NIM chỉ phản ánh mức độ chênh lệch thu chi từ hoạt động cấp tín dụng truyền thống, không đo lường được hiệu quả của các mảng kinh doanh phi tín dụng. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ phi tín dụng, hướng tới mục tiêu tỷ trọng thu nhập phi tín dụng đạt 16% – 17% tổng thu nhập theo định hướng chiến lược của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hải Nam là công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về khả năng sinh lời của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2018 thông qua việc kết hợp hệ thống lý thuyết chu kỳ kinh tế, lý thuyết bất ổn tài chính Minsky với phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes qua thuật toán lấy mẫu Gibbs. Kết quả nghiên cứu đã phân định rõ các yếu tố duy trì tác động ổn định (quy mô, vốn, dự phòng rủi ro tín dụng, dư nợ cho vay) và các yếu tố đảo chiều tác động (tài sản thanh khoản, chi phí hoạt động) giữa hai thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng; đồng thời chứng minh bằng chứng thực nghiệm về việc khả năng sinh lời giai đoạn khủng hoảng đạt mức cao hơn hậu khủng hoảng do ảnh hưởng của các chính sách kích cầu vĩ mô. Các phát hiện và năm nhóm khuyến nghị chính sách của luận án cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng cho việc quản trị ngân hàng an toàn và hoạch định chính sách tiền tệ ứng phó với các biến động kinh tế trong tương lai.