CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tìm hiểu định nghĩa và bệnh học về UTV 1. Các khái niệm liên quan đến UTV UTV được coi là vấn đề sức khỏe toàn cầu, là loại UT phổ biến và nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Bệnh này chiếm 32% của tất cả các loại UT mới và 18% số ca tử vong do UT ở phụ nữ [57], [45], [60].
Y văn đã đưa ra định nghĩa về UTV và các khái niệm liên quan như sau: Ung thư vú: là bệnh lý ác tính của vú do tế bào ung thư phát triển từ những tế bào ống hay những tế bào nang của vú. Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư sẽ phát triển nhanh chóng trong vú đi vào các mạch máu hay mạch bạch huyết, chạy tới các hạch và có thể xâm lấn đến các bộ phận khác, gây ra đau đớn, tắc nghẽn ở nhiều bộ phận trong cơ thể và dẫn đến tử vong [18]. Phát hiện sớm UTV: là sử dụng các cách tiếp cận cho phép chẩn đoán sớm UTV trước khi có triệu chứng rõ ràng, tương ứng với giai đoạn phát triển của UTV ở giai đoạn 0 đến giai đoạn 2 khi mà khối u vẫn còn nhỏ dưới 5 cm và không có các dấu hiệu cho thấy ung thư di căn xa hơn [18], [74], Tự kiểm tra vú: là một phương pháp phát hiện UTV ở giai đoạn sớm. Đó là phương pháp mà tự bạn khám vú trước gương với các tư thế khác nhau để xem có thay đổi gì về màu sắc, tính chất của da hay có gì bất thường ở vú.
Khám sàng lọc phát hiện sớm UTV: là dịch vụ y tế kiểm tra bộ ngực của người phụ nữ do các chuyên gia y tế như bác sĩ hoặc cán bộ y tế có chuyên môn thực hiện [18]. Chụp nhũ quang: là một trong những phương pháp dùng tia X liều thấp để kiểm tra các mô tại vùng ngực nhằm phát hiện UTV ở giai đoạn còn sớm khi đó UT còn nhỏ mà khám vú có thể không phát hiện được [18]. Các giai đoạn phát triển UTV Giai đoạn ung thư được thể hiện qua kích cỡ khối u và sự di căn của ung thư. Xác định về phạm vi và cấp độ ung thư giúp bác sĩ quyết định phương pháp điều trị phù hợp nhất.
UTV được phân loại theo các giai đoạn sau [74]: Giai đoạn 0 (ung thư tại chỗ): Giai đoạn mà các tế bào ƯTV hoàn toàn nằm trong ống dẫn sữa, và chưa xâm lấn sang các mô vú xung quanh. Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn ung thư không xâm lấn hoặc tại chỗ, vì tế bào ung thư vẫn chưa xâm lấn sang các mô vú xung quanh và do đó không xâm lấn sang phần khác của cơ thể [74]. Giai đoạn 1: Khối u nhỏ hơn 2 cm, chưa ảnh hưởng đến các tuyến bạch huyết ở nách và không có dấu hiệu ung thư đã di căn sang bất cứ nơi nào trên cơ thể [74], Giai đoạn 2: Khối u có kích cỡ trong khoảng từ 2 đến 5 cm, ảnh hưởng đến tuyến bạch huyết ở một hoặc cả hai nách. Tuy nhiên, không có các dấu hiệu của ung thư đã di căn xa hơn [74].
Giai đoạn 3: Khối u lớn hơn 5 cm và có thể bám vào các cấu trúc xung quanh như cơ hoặc da. Tuyến bạch huyết thường bị ảnh hưởng, nhưng không có dấu hiệu cho thấy ung thư đã di căn ra ngoài phạm vi của vú hoặc tuyến bạch huyết ở nách [74]. Giai đoạn 4\ Khối u với bất kỳ kích cỡ nào thường đã ảnh hưởng đến tuyến bạch huyết và ung thư đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể. Đây là giai đoạn UTV di căn hoặc thứ phát [74].
Triệu chứng lâm sàng của UTV Triệu chứng lâm sàng của UTV rất đa dạng, các triệu chứng điển hình thường gặp ở giai đoạn muộn. Triệu chứng tại tuyến vú Biểu hiện đầu tiên của bệnh UTV giai đoạn đầu thường là một khối u vú cứng, có cạnh không đều và không gây đau đớn. Khi khối u vú phát triển sẽ gây ra những xáo trộn như thay đổi ở núm vú hoặc quầng vú, kích thước vú và cả núm vú, nhưng không đau [33],Các dấu hiệu khác của UTV gồm: - Sưng tất cả hoặc một phần của vú 8 - Da bị kích ứng hoặc lõm xuống - Đau vú hoặc núm vú - Núm vú co rụt (chuyển vào phía trong) - Da vú hoặc núm vú bị đỏ, có vảy, hoặc dày lên - Có chất dịch núm vú khác ngoài sữa mẹ - Đôi khi một bệnh UTV có thể lây lan đến các hạch bạch huyết dưới cánh tay và gây ra một khối u hoặc sưng, ngay cả trước khi khối u ban đầu trong các mô vú là đủ lớn để có thể cảm nhận được [18], 1. Hạch nách Hạch nách cùng bên to ra chứng tỏ đã di căn UT tới phạm vi khu vực.
cần xác định các tính chất của hạch nách về: số lượng, độ lớn, mật độ, tình trạng dính của hạch vào nhau và vào tổ chức xung quanh. Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ mắc UTV của phụ nữ Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được có một số yếu tố liên quan đến UTV ở phụ nữ. Tuy nhiên, 75% phụ nữ đang bị UTV không xác định được các yếu tố nguy cơ rõ ràng [34], [38]. Nguy cơ ƯTV rất thấp ở các phụ nữ trẻ tuổi và tăng cao hơn khi phụ nữ lớn tuổi, trên 50% phụ nữ bị UTV là ở tuổi trên 65.
Tuổi thọ tăng cao đang là một yếu tố nguy cơ làm gia tăng UTV ở phụ nữ trên toàn cầu. Tiền sử cá nhân và gia đình mắc UTV cũng là các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Ngoài ra, các yếu tố khác làm tăng thêm nguy cơ phát triển ƯTV là: có kinh nguyệt sớm và mãn kinh muộn, béo phì sau khi mãn kinh, sử dụng thuốc tránh thai và liệu pháp hormon sau mãn kinh, có con đầu sau 35 tuổi, chủng tộc, bức xạ ánh sáng hoặc lạm dụng rượu [40]. Các yếu tổ nguy cơ khó có khả năng thay đổi Giới tính'.
UTV chủ yếu gặp ở nữ giới. Nam giới cũng mắc UTV, nhưng ít phổ biến hơn gấp 100 lần so với nữ. Lý do vì các tế bào vú của phụ nữ liên tục bị ảnh hưởng của kích thích tố nữ estrogen và progesterone [18]. Lão hóa: Nguy cơ phát triển UTV tăng dần theo độ tuổi.
Bệnh rất hiếm gặp ở phụ nữ dưới 25 tuổi, khoảng 12% UTV xuất hiện ở phụ nữ 45-55 tuổi và 66% bệnh được tìm thấy ở phụ nữ trên 55 tuổi [18], 9 Di truyền: Khoảng 5% đến 10% trường hợp UTV là do di truyền, kết quả do thiếu 1 trong các gen đặc biệt là BRCA1 và BCRA2 được di truyền từ người cha, làm cho bạn có nguy cơ cao bị bệnh. Nguy cơ có thể cao tới 80% cho các thành viên của một số gia đình có đột biến gen BRCA [18], [62]. Tiền sử gia đình mắc UTV: Phụ nữ có người thân trong gia đình bị UTV thì thường có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Nguy cơ mắc bệnh có thể tăng gấp 3-6 lần ở phụ nữ có mẹ, chị, em và con gái bị UTV.
Khoảng 15% phụ nữ bị UTV có ít nhất một thành viên trong gia đình mắc bệnh này [18], [44]. Tiền sử cá nhân bị UTV: Một phụ nữ bị ung thư một bên vú sẽ có nguy cơ phát triển ung thư mới ở bên vú kia hoặc một phần khác trong cùng vú đó cao gấp 3-4 lần so với những người không bị UTV [18]. Chủng tộc và sắc tộc. Phụ nữ da trắng có nguy cơ mắc UTV cao hơn phụ nữ da đen và da vàng.
Tuy nhiên, phụ nữ Mỹ gốc Phi lại có nhiều khả năng chết vì bệnh này hơn. Nguyên nhân một phần của vấn đề này là do phụ nữ Mỹ gốc Phi thường hay bị các khối u ác tính. Phụ nữ Châu Á, Tây Ban Nha và Mỹ bản địa có nguy cơ phát triển và chết vì ƯTV thấp hơn [18], Rối loạn nội tiết tố: Phụ nữ có kinh nguyệt sớm (trước tuổi 12) hoặc mãn kinh muộn (sau tuổi 55) có nguy cơ mắc UTV cao hơn. Điều này có thể liên quan đến việc họ bị tác động của kích thích tố estrogen và progesterone nhiều hơn bình thường [18], [59].
Chiếu xạ ngực. Phụ nữ từng chiếu xạ ngực để điều trị cho bệnh ung thư khác sẽ tăng nguy cơ mắc UTV. Nguy cơ này thay đổi theo độ tuổi của bệnh nhân khi họ tiếp xúc với bức xạ. Nguy cơ phát triển UTV do chiếu xạ ngực cao nhất ở tuổi vị thành niên, khi vú vẫn còn đang phát triển.
Xạ trị sau 40 tuổi dường như không làm tăng nguy cơ phát triển bệnh này [18], 1. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống 1. Các yếu tố làm gia tăng nguy cơ mac UTV Có con muộn: Phụ nữ không sinh con hoặc những người sinh con lần đầu sau tuổi 35 cố nguy cơ ƯTV cao hơn [44], [37]. 10 Sử dụng thuốc tránh thai: Các nghiên cứu đã tìm thấy rằng phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai có nguy cơ UTV lớn hơn so với những phụ nữ chưa bao giờ sử dụng chúng.
Khi dừng sử dụng thuốc tránh thai trên 10 năm thì nguy cơ UTV dần trở lại mức bình thường. Do đó, khi sử dụng thuốc tránh thai, phụ nữ nên tham khảo các chuyên gia y tế về các nguy cơ của bệnh UTV [37]. Điều trị hormone sau mãn kinh: Liệu pháp hormone thời kỳ mãn kinh đã được sử dụng trong nhiều năm để giúp giảm các triệu chứng của mãn kinh và giúp ngăn ngừa chứng loãng xương. Tuy nhiên, sử dụng liệu pháp hormone thay thế làm tăng nguy cơ UTV, đồng thời làm tăng mức độ nặng của UTV ở giai đoạn trầm trọng và tăng nguy cơ tử vong vì sử dụng hormone thay thếlàm dày mô tuyến vú và dẫn đến giảm hiệu quả của xạ trị tuyến vú.
Nguy cơ này sẽ gia tăng sau 2 năm sử dụng liệu pháp hormone thay thế và về mức bình thường sau 5 năm ngưng điều trị [55]; [21]. Uổng rượu-, uống rượu có mối liên quan chặt chẽ đến tăng nguy cơ mắc UTV. Nguy cơ tăng lên tỷ lệ thuận với lượng rượu tiêu thụ. So với phụ nữ không uống rượu thì những phụ nữ uống từ 300 - 750 ml/ngày có nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 1,5 lần so với phụ nữ bình thường [21], [55].
Thừa cân hoặc béo phì: Thừa cân hoặc béo phì được cho là góp phần gia tăng nguy cơ UTV, đặc biệt là ở phụ nữ sau mãn kinh [77].