Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu
Công tác phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên và lâu dài được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định trong nhiều văn bản chỉ đạo chiến lược. Kết luận số 13-KL/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X đã chỉ rõ: công tác phòng ngừa tội phạm ở một số nơi, đặc biệt tại cấp cơ sở, vẫn còn mang tính hình thức, thiếu quyết liệt, bị động và chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị cùng quần chúng nhân dân. Đồng thời, Chiến lược Quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 – 2025 và định hướng đến năm 2030 tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng của công tác phòng ngừa trong việc bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của các chủ thể xã hội.
Tỉnh Bạc Liêu nằm trên bán đảo Cà Mau thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội (năm 2021 tăng trưởng kinh tế đạt trên 5%, ngành nông nghiệp tăng 4,45%, dẫn đầu 13 tỉnh, thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long), tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu (XPSH) có tính chiếm đoạt nói riêng trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp. Thống kê giai đoạn 2010 – 2021 cho thấy toàn tỉnh ghi nhận 2.176 vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trên tổng số 4.930 vụ phạm tội hình sự nói chung (chiếm tỷ lệ 41,1%) với 3.428 đối tượng trên tổng số 8.157 đối tượng phạm tội (chiếm tỷ lệ 42,0%). Tỷ trọng này phản ánh mức độ phổ biến cao của nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong cơ cấu tội phạm tại địa phương.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm tại Bạc Liêu bộc lộ khoảng trống rõ rệt: việc xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa chưa đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với các đặc điểm kinh tế – văn hóa – xã hội đặc thù của địa bàn miền sông nước Tây Nam Bộ, cũng như chưa có hệ thống giải pháp chuyên biệt cho nhóm tội có tính chất chiếm đoạt tài sản. Do đó, việc nghiên cứu đề tài mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Xây dựng khung lý luận chuyên sâu về phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chiếm đoạt; phân tích và làm rõ thực trạng tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện cũng như thực trạng hoạt động phòng ngừa nhóm tội này tại tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2010 – 2021; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tại địa phương trong giai đoạn tiếp theo.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Một là, nghiên cứu, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chiếm đoạt, xác định các nội dung kế thừa và khoảng trống cần tiếp tục giải quyết.
- Hai là, xây dựng khung lý luận về phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chiếm đoạt dưới góc độ tội phạm học.
- Ba là, thu thập, xử lý số liệu để phân tích thực trạng tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện và thực trạng triển khai hoạt động phòng ngừa các tội XPSH có tính chiếm đoạt tại tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2010 – 2021.
- Bốn là, đưa ra các dự báo khoa học về xu hướng tình hình tội phạm và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về tội phạm học và phòng ngừa tội phạm; các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt; thực tiễn tình hình tội phạm và hoạt động phòng ngừa tại tỉnh Bạc Liêu; hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung và pháp lý: Giới hạn trong phạm vi nhóm 08 tội danh xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quy định tại Chương XVI Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) từ Điều 168 đến Điều 175, bao gồm: Tội cướp tài sản (Điều 168), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), Tội cướp giật tài sản (Điều 171), Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội trộm cắp tài sản (Điều 173), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175). Đồng thời, đối chiếu với các quy định tương ứng từ Điều 133 đến Điều 140 Chương XIV BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) được áp dụng trong giai đoạn khảo sát.
- Về chủ thể phòng ngừa: Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp; các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan tư pháp (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án); các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể xã hội và quần chúng nhân dân.
- Về không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Bạc Liêu.
- Về thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn trong giai đoạn 12 năm, từ năm 2010 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài:
Các nghiên cứu lý luận cơ bản trong nước
- Các giáo trình nền tảng về tội phạm học: Giáo trình Tội phạm học của GS.TS. Võ Khánh Vinh (2011, Nxb. Công an nhân dân) phân tích hệ thống phân loại biện pháp phòng ngừa theo nội dung (kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, pháp lý), theo khối lượng (chung, riêng) và theo phạm vi; sách Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm (2001, Nxb. Công an nhân dân) xác định phòng ngừa là hoạt động cải tạo các quan hệ xã hội nhằm triệt tiêu nguyên nhân, điều kiện phạm tội; công trình Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam do GS. Đào Trí Úc chủ biên (1994, Nxb. Chính trị Quốc gia) phân định hệ thống chủ thể phòng ngừa và ba cấp độ phòng ngừa (xã hội chung, chuyên ngành, phạm vi lãnh thổ).
- Các giáo trình đào tạo chuyên ngành: Giáo trình Tội phạm học của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Võ Thị Kim Oanh, Lê Nguyên Thanh, 2013), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (Trịnh Tiến Việt, Nguyễn Khắc Hải đồng chủ biên, 2020), Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019).
- Các bài viết nghiên cứu chuyên sâu trên tạp chí khoa học: Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà (2021) trên Tạp chí Giáo dục và Xã hội về tác động của môi trường gia đình khiếm khuyết và nhóm bạn bè tiêu cực đến người chưa thành niên phạm tội; loạt bài viết của Hồ Sỹ Sơn trên Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội (2019, 2021) luận giải sâu về bản chất, cơ chế tác động bên trong (nhu cầu, định hướng giá trị) và cơ chế tác động bên ngoài của các yếu tố kinh tế – xã hội đối với tình hình tội phạm.
Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về nhóm tội xâm phạm sở hữu
- Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Luận án của Đoàn Công Viên (2018, Học viện Khoa học Xã hội) nghiên cứu các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2017; Nguyễn Văn Khoa Điềm (2019) nghiên cứu phòng ngừa tội cướp giật tài sản tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2018; Huỳnh Tấn Đạt (2017) nghiên cứu nhóm tội XPSH do người chưa thành niên thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh; Đặng Thị Thúy Quỳnh (2013) nghiên cứu tội cướp giật tài sản trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2004 – 2012; Nguyễn Văn Thanh (2016) phân tích khía cạnh luật hình sự về tội XPSH tại TP. Hồ Chí Minh; Phạm Văn Trung (2017) khảo sát tội cướp giật tài sản tại vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2007 – 2016.
- Các luận văn thạc sĩ và bài báo khoa học: Trần Phước Hiếu (2019, tại Đà Nẵng), Phạm Thị Thu Thủy (2020, tội lừa đảo tại Hà Nội), Bùi Trọng An (2019, tại Lâm Đồng), Nguyễn Xuân Phong (2019, tại Phan Rang – Tháp Chàm), Võ Như Nghĩa (2019, tại các điểm du lịch Đà Nẵng), Lê Văn Dũng (2020, tội XPSH trong quân đội), Trần Lệ Loan (2021, nghiên cứu từ góc độ nạn nhân tại Bình Định), Đỗ Tiến Dũng (2017, từ góc độ nhân thân người phạm tội ở Đông Nam Bộ), Nguyễn Trung Hòa (2018, nhân thân người phạm tội cướp tài sản tại các tỉnh phía Nam).
Các nghiên cứu quốc tế
- Công trình lý luận đại cương: An Introduction to Crime and Criminology của Hennessy Hayes và Tim Prenzler (Australia); Crime and Criminology in Japan của Can Ueda (Đại học Ritsumeikan, Nhật Bản) phân tích tác động của đô thị hóa và nhân thân tội phạm; Kriminologie của Hans Göppinger (Đức, 2008); Criminology Today của Frank Schmalleger (Mỹ, 2002); Kriminologie: Eine praxisorientierte Einführung mit Beispielen của Hans-Dieter Schwind (Đức, 2007) phân biệt khoa học pháp lý hình sự vị quy phạm và phi quy phạm; công trình của R. Hartmann (1975, CHDC Đức) về tội phạm học xã hội chủ nghĩa; V.V. Luneev (1991, Liên Xô) về quy luật vận động của tình hình tội phạm; G. Mikovskij (1977, Maxcơva) về cơ sở lý luận của phòng ngừa tội phạm.
- Nghiên cứu ứng dụng và chính sách: Báo cáo của Diana Nelson và cộng sự (2002, Viện Tội phạm Australia) về chuỗi hành vi và phương thức tiêu thụ tài sản trộm cắp; nghiên cứu của Stijn Van Daele (2008, Bỉ) về tội phạm sở hữu có tổ chức và tính lưu động; tài liệu của Erich Marks (2009, Đức/Châu Âu) tại Hội nghị Liên Hợp Quốc lần thứ XII về phân cấp ba cấp độ phòng ngừa (phòng ngừa cơ bản - primäre, phát sinh - sekundäre, và tái phạm - tertiäre).
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn
Phần lớn các công trình trong nước tập trung vào các đô thị lớn (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng) hoặc các khu vực công nghiệp phát triển (Đông Nam Bộ), hoặc chỉ tập trung vào một tội danh đơn lẻ (cướp giật, trộm cắp). Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về toàn bộ nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu – một tỉnh nông nghiệp, ven biển thuộc vùng Tây Nam Bộ – trong khung thời gian 2010 – 2021. Luận án giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước về kiểm soát, phòng chống tội phạm.
- Khái niệm Tội phạm XPSH có tính chiếm đoạt: Luận án xác định đây là các hành vi nguy hiểm cho xã hội do cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nhằm chuyển dịch hoặc thực hiện việc chuyển dịch trái pháp luật tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác thành tài sản của mình.
- Cấu thành tội phạm:
- Khách thể: Quan hệ sở hữu (quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) và trong một số trường hợp xâm phạm khách thể kết hợp là tính mạng, sức khỏe con người (cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản).
- Mặt khách quan: Hành vi chiếm đoạt tài sản. Được phân chia thành cấu thành tội phạm hình thức (Điều 168, 169, 170 BLHS 2015 – chỉ cần có hành vi nhằm mục đích chiếm đoạt) và cấu thành tội phạm vật chất (Điều 171 đến Điều 175 BLHS 2015 – đòi hỏi có hành vi, hậu quả tài sản bị chiếm đoạt và mối quan hệ nhân quả).
- Chủ thể: Cá nhân đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS) và có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 BLHS).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; mục đích vụ lợi/chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc (riêng tội cướp giật tài sản, hành vi chiếm đoạt diễn ra trực tiếp trên thực tế).
- Khái niệm Tình hình các tội XPSH có tính chiếm đoạt: Là hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự thay đổi theo lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất các tội XPSH có tính chiếm đoạt đã thực hiện trong một giới hạn không gian (tỉnh Bạc Liêu) và khoảng thời gian xác định (2010 – 2021).
- Khái niệm Phòng ngừa: Là hệ thống các biện pháp đồng bộ mang tính nhà nước và xã hội (chính trị, kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục, pháp luật, nghiệp vụ chuyên ngành) do các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm hạn chế, triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, ngăn chặn không để tội phạm xảy ra.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê xã hội học/tội phạm học:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch và hệ thống hóa: Sử dụng xuyên suốt trong Chương 1 và Chương 2 để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, tổng quan tài liệu và xây dựng khung lý thuyết.
- Phương pháp thống kê mô tả: Áp dụng trong Chương 3 để xử lý số liệu vụ án, bị can, bị cáo từ năm 2010 đến năm 2021; tính toán tỷ lệ tương quan, cơ cấu tội danh, và các chỉ số nhân thân người phạm tội.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ điển hình, khảo sát thực tế và tọa đàm chuyên gia: Đánh giá thực trạng công tác chỉ đạo, năng lực bộ máy và cơ chế phối hợp liên ngành tại Bạc Liêu.
- Phương pháp dự báo khoa học và suy luận logic: Áp dụng trong Chương 4 nhằm đưa ra các kịch bản xu hướng tội phạm và luận chứng các giải pháp khả thi.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về công tác an ninh trật tự.
- Số liệu thống kê chính thức giai đoạn 2010 – 2021 từ các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bạc Liêu: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Bạc Liêu.
- Báo cáo định kỳ và chuyên đề về phát triển kinh tế – xã hội của Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này phân tích lịch sử nghiên cứu lý luận tội phạm học trong nước và quốc tế, chỉ rõ các nhánh tiếp cận từ góc độ kinh tế, xã hội học, tâm lý học và khoa học điều tra hình sự. Tác giả tổng kết rằng các nghiên cứu trước đây đã tạo dựng nền tảng lý luận vững chắc về các khái niệm cơ bản (tình hình tội phạm, nguyên nhân – điều kiện, phân cấp phòng ngừa), nhưng chưa có công trình nào đánh giá chuyên sâu thực tiễn phòng ngừa nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt tại địa bàn cụ thể là tỉnh Bạc Liêu. Việc phân định rõ ràng các hướng nghiên cứu giúp luận án xác định chính xác nhiệm vụ kế thừa và bổ sung các luận cứ thực tiễn mới.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Nội dung chương 2 tập trung xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh cho đề tài:
- Đặc điểm của phòng ngừa nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt: Thường được lồng ghép trong các chiến lược, chương trình quốc gia phòng chống tội phạm chung; kết hợp với các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm; mục tiêu trọng tâm là bảo vệ quyền sở hữu và tính mạng, sức khỏe của người dân; phải gắn kết chặt chẽ với việc phòng ngừa các tệ nạn xã hội (ma túy, cờ bạc, rượu chè, nghiện game); đặc biệt chú trọng biện pháp khắc phục các sơ hở, thiếu sót từ phía người có nguy cơ trở thành nạn nhân.
- Mục đích và ý nghĩa: Mục đích trước mắt là giảm thiểu số lượng vụ việc và người phạm tội, hạn chế điều kiện phát sinh tội phạm; mục đích chiến lược là loại trừ dần các nguyên nhân gốc rễ. Về ý nghĩa, hoạt động này mang tính nhân đạo sâu sắc (bảo vệ quyền con người, phòng ngừa không để công dân rơi vào vòng lao lý), đồng thời mang ý nghĩa kinh tế trực tiếp (bảo vệ tài sản, tiết kiệm chi phí tố tụng và thi hành án cho ngân sách nhà nước).
- Nguyên tắc, đối tượng, chủ thể và biện pháp: Xác định rõ vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền, trách nhiệm nòng cốt của lực lượng Công an và các cơ quan tư pháp, cùng sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và nhân dân.
Chương 3: Thực trạng phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tại tỉnh Bạc Liêu
Chương này cung cấp bức tranh thực trạng tình hình tội phạm và thực tiễn triển khai công tác phòng ngừa tại địa phương giai đoạn 2010 – 2021 dựa trên dữ liệu thống kê:
| Chỉ số thống kê (2010 – 2021) |
Tổng số tội phạm hình sự chung |
Nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt |
Tỷ lệ tương quan (%) |
| Số vụ án ghi nhận/khởi tố |
4.930 vụ |
2.176 vụ |
41,1% |
| Số lượng bị can/người phạm tội |
8.157 người |
3.428 người |
42,0% |
Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống bảng biểu về cơ cấu tội phạm theo các chiều cạnh:
- Cơ cấu theo tội danh: Tội trộm cắp tài sản (Điều 173/Điều 138) và lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174/Điều 139) chiếm tỷ lệ chủ đạo; các tội cướp tài sản, cướp giật tài sản, cưỡng đoạt tài sản diễn biến phức tạp tại các tuyến giao thông và khu vực giáp ranh.
- Đặc điểm nhân thân người phạm tội: Khảo sát cơ cấu theo độ tuổi (tập trung cao ở nhóm thanh thiếu niên), giới tính, trình độ học vấn (phần lớn học vấn thấp), nghề nghiệp (tỷ lệ không có việc làm hoặc nghề nghiệp không ổn định chiếm tỷ trọng lớn), tiền án tiền sự, và địa bàn cư trú.
- Đánh giá thực trạng hoạt động phòng ngừa:
- Nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương có sự chuyển biến nhưng ở một số nơi còn biểu hiện hình thức, coi công tác này là nhiệm vụ riêng của lực lượng Công an.
- Tổ chức lực lượng chuyên trách còn gặp khó khăn về biên chế, phương tiện kỹ thuật tại các địa bàn cấp xã, vùng sâu vùng xa.
- Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an – Viện kiểm sát – Tòa án) và giữa cơ quan tư pháp với các ban, ngành, đoàn thể chưa thực sự nhịp nhàng, thông tin trao đổi định kỳ còn hạn chế.
- Các biện pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ chưa được triển khai đồng đều, việc tuyên truyền giáo dục pháp luật chưa có nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng có nguy cơ cao.
Chương 4: Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tại tỉnh Bạc Liêu
Trên cơ sở dự báo xu hướng tình hình tội phạm trong bối cảnh chuyển dịch kinh tế và ứng dụng công nghệ, luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp:
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp: Tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng đối với công tác phòng ngừa tội phạm; đưa chỉ tiêu phòng ngừa an ninh trật tự vào đánh giá thực hiện nhiệm vụ chính trị hàng năm tại cơ sở.
- Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành: Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc điều tra, truy tố, xét xử lưu động các vụ án điểm; tăng cường trao đổi dữ liệu tội phạm giữa lực lượng tư pháp và chính quyền địa phương.
- Khắc phục hạn chế trong phát triển kinh tế – xã hội: Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho thanh niên, hỗ trợ vay vốn sản xuất, giảm tỷ lệ thất nghiệp tại các vùng nông thôn và ven biển.
- Khắc phục hạn chế trong môi trường văn hóa, giáo dục và quản lý gia đình: Xây dựng môi trường sống lành mạnh tại cộng đồng dân cư; phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quản lý, giáo dục thanh thiếu niên hư, có biểu hiện vi phạm pháp luật.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật: Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền; tập trung cảnh báo các thủ đoạn phạm tội mới; nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản của người dân nhằm triệt tiêu các sơ hở mà đối tượng phạm tội có thể lợi dụng.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự: Tăng cường công tác quản lý cư trú, quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện (cầm đồ, kinh doanh xe máy cũ, dịch vụ internet/game); đẩy mạnh tuần tra kiểm soát tại các địa bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận tội phạm học về tình hình các tội XPSH có tính chiếm đoạt tại một đơn vị hành chính cấp tỉnh có đặc thù địa bàn ven biển, sông nước Tây Nam Bộ.
- Luận giải rõ ràng các yếu tố cấu thành, đặc điểm vận động, các mối quan hệ tác động qua lại giữa nguyên nhân – điều kiện xã hội đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường tại địa phương.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đưa ra bức tranh toàn diện, khách quan về tình hình các tội XPSH có tính chiếm đoạt tại Bạc Liêu qua chuỗi số liệu 12 năm (2010 – 2021), làm rõ các chỉ số về lượng và chất của tội phạm.
- Phân tích, chỉ rõ những điểm nghẽn trong công tác tổ chức, nhận thức và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng tại địa bàn tỉnh.
- Hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi, gắn liền với điều kiện thực tế của tỉnh Bạc Liêu, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Công an tỉnh Bạc Liêu trong hoạch định chính sách an ninh trật tự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu thực chứng của luận án giới hạn trong phạm vi không gian tỉnh Bạc Liêu và mốc thời gian từ năm 2010 đến hết năm 2021; chưa bao quát sâu các dạng hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu có yếu tố công nghệ cao hoặc lừa đảo qua không gian mạng phát sinh mạnh trong giai đoạn sau năm 2021.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh tình hình tội phạm sở hữu có tính chiếm đoạt giữa các tỉnh thuộc tiểu vùng bán đảo Cà Mau và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Nghiên cứu chuyên đề về phòng ngừa các thủ đoạn chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng và các mô hình phòng ngừa tội phạm ứng dụng dữ liệu dân cư quốc gia tại địa phương.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan thực thi pháp luật tại Bạc Liêu: Cung cấp cơ sở khoa học để Công an tỉnh, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành, xây dựng các kế hoạch cao điểm phòng ngừa tội phạm sát với đặc thù địa bàn.
- Đối với các cơ quan hoạch định chính sách: Giúp cấp ủy và chính quyền cấp huyện, xã xây dựng các chương trình an sinh xã hội, giải quyết việc làm gắn kết với mục tiêu giảm thiểu tệ nạn xã hội và tội phạm.
- Đối với công tác đào tạo, nghiên cứu: Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên luật và giảng viên chuyên ngành Tội phạm học, Luật Hình sự tại các cơ sở đào tạo chuyên luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong cơ cấu tội phạm tại Bạc Liêu giai đoạn 2010 – 2021 là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2010 – 2021, toàn tỉnh Bạc Liêu ghi nhận 2.176 vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong tổng số 4.930 vụ phạm tội hình sự nói chung (chiếm 41,1%) và 3.428 đối tượng trong tổng số 8.157 đối tượng phạm tội (chiếm 42,0%).
2. Khung pháp lý về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được tác giả áp dụng gồm những quy định nào?
Luận án áp dụng các quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) từ Điều 168 đến Điều 175 (gồm 8 tội danh: cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) kết hợp đối chiếu với các quy định tương ứng từ Điều 133 đến Điều 140 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009).
3. Hoạt động phòng ngừa nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt có đặc điểm đặc thù gì so với phòng ngừa tội phạm nói chung?
Nhóm tội này thường không có kế hoạch phòng ngừa hoàn toàn biệt lập mà lồng ghép trong các chiến lược quốc gia; triển khai theo các đợt cao điểm; hướng đến bảo vệ quyền sở hữu gắn liền với tính mạng, sức khỏe; phải thực hiện đồng bộ với việc triệt phá các tệ nạn ma túy, cờ bạc, nghiện game; đồng thời chú trọng khắc phục sơ hở, nâng cao cảnh giác từ phía nạn nhân.
4. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tại Bạc Liêu?
Luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp: nâng cao nhận thức cấp ủy/chính quyền; tăng cường phối hợp liên ngành; giải quyết các hạn chế kinh tế – xã hội; hoàn thiện môi trường văn hóa – giáo dục; đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước về an ninh trật tự.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Huỳnh Châu Mai Sơn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu thông qua việc thiết lập khung lý thuyết chuyên ngành vững chắc và khảo sát chi tiết thực trạng các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tại tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2010 – 2021. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ bức tranh tội phạm chiếm tỷ trọng cao (trên 41% số vụ và 42% số đối tượng) tại địa bàn, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong cơ chế quản lý, nhận thức và phối hợp liên ngành. Hệ thống 6 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, thực tế, cung cấp luận cứ khoa học giá trị phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại Bạc Liêu nói riêng và các địa bàn có điều kiện tương đồng nói chung.