Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thuế giữ vai trò là nguồn thu chủ yếu và mang tính thường xuyên của ngân sách nhà nước, nhằm bảo đảm các khoản chi công cũng như duy trì sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Trong hệ thống thuế tại Việt Nam, thuế giá trị gia tăng (GTGT) đóng góp trên 30% tổng thu ngân sách hàng năm. Tuy nhiên, đây cũng là sắc thuế bị nhiều chủ thể kinh doanh lợi dụng để thực hiện hành vi trốn thuế và gian lận thuế. Báo cáo của các cơ quan quản lý cho thấy, mặc dù số thu thuế năm sau luôn cao hơn năm trước, tình trạng thất thu thuế GTGT ước tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm. Tại một trung tâm kinh tế quy mô lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, sự phát triển nhanh chóng của các chủ thể kinh doanh làm gia tăng nguồn thu nhưng đồng thời cũng phát sinh những diễn biến phức tạp về tội phạm thuế. Dù thiệt hại về kinh tế và xã hội là rất lớn, số lượng các vụ án trốn thuế bị xử lý hình sự trên thực tế còn rất ít so với quy mô vi phạm.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Trần Xuân Đài đã thực hiện khóa luận cử nhân luật với đề tài "Phòng ngừa tội phạm trốn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh" thuộc Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (niên khóa 2008 – 2012), dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận tập trung làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất giải pháp phòng ngừa tội phạm trốn thuế GTGT. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những đặc điểm pháp lý cơ bản của tội trốn thuế theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và phân biệt tội danh này với các tội phạm liên quan.
  2. Khảo sát, đánh giá tình hình tội phạm trốn thuế GTGT cùng các đặc điểm tội phạm học của loại tội này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007 – 2011.
  3. Phân tích, làm rõ các nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm trốn thuế GTGT dưới cả góc độ tình hình tội phạm chung và góc độ tội phạm cụ thể.
  4. Đưa ra dự báo và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm trốn thuế GTGT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tội phạm trốn thuế trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng, các đặc điểm tội phạm học, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và các biện pháp phòng ngừa. Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; phạm vi thời gian thu thập và phân tích dữ liệu thống kê hình sự là giai đoạn 5 năm từ năm 2007 đến năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước, cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về tội phạm và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Về mặt lý luận tội phạm học, đề tài tiếp cận khái niệm tội phạm qua bốn dấu hiệu bản chất (tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt), hệ thống bốn yếu tố cấu thành tội phạm, lý thuyết về các thông số tình hình tội phạm (thực trạng, cơ cấu, động thái, thiệt hại, độ ẩn) và mối quan hệ nhân quả trong phát sinh tội phạm.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng làm căn cứ pháp lý bao gồm:

  • Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), trọng tâm là Điều 161 (Tội trốn thuế), kết hợp đối chiếu với Điều 153 (Tội buôn lậu) và Điều 159 (Tội kinh doanh trái phép).
  • Luật Quản lý thuế năm 2006, đặc biệt là Điều 108 quy định chi tiết các hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
  • Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Doanh nghiệp năm 2005.
  • Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/02/2004 và Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật thuế.

Tác giả phối hợp ba phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các văn bản pháp luật, giáo trình, công trình nghiên cứu và bài viết chuyên khảo liên quan đến tội trốn thuế.
  • Phương pháp thống kê hình sự: Thu thập, tổng hợp, xử lý và so sánh các số liệu phản ánh tình hình thụ lý, xét xử tội trốn thuế từ nguồn số liệu thực tế của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007 – 2011.
  • Phương pháp điều tra điển hình: Phân tích hồ sơ vụ án hình sự cụ thể đã có hiệu lực pháp luật (tiêu biểu là Bản án số 338/2011/HSST ngày 27/09/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) để làm rõ phương thức, thủ đoạn phạm tội và quy trình giám định tư pháp về thuế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tội trốn thuế theo Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) và tình hình tội trốn thuế GTGT trên địa bàn TPHCM

Chương này tập trung giải quyết hai nhóm vấn đề: cơ sở pháp lý của tội trốn thuế và thực trạng tội phạm học của tội trốn thuế GTGT tại địa phương.

Về phương diện pháp lý, tác giả phân tích các dấu hiệu cấu thành tội trốn thuế theo Điều 161 Bộ luật Hình sự 1999:

  • Khách thể: Trật tự quản lý việc thu nộp thuế của Nhà nước, trực tiếp xâm phạm chính sách thuế và làm thất thu ngân sách; đối tượng tác động là số tiền thuế phải nộp.
  • Mặt khách quan: Bao gồm hành vi trốn thuế (dẫn chiếu các hành vi tại Điều 108 Luật Quản lý thuế năm 2006 như không đăng ký kê khai, lập hóa đơn chứng từ giả, làm sai lệch sổ sách), hậu quả nguy hiểm cho xã hội với mức định lượng số tiền trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên (hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án chưa được xóa án tích), cùng mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi và hậu quả thất thu.
  • Chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi luật định và phải là đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế. Tác giả nhấn mạnh bất cập khi pháp luật hình sự hiện hành chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, dù trên thực tế các hành vi trốn thuế lớn đều nhân danh doanh nghiệp.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; người phạm tội nhận thức rõ hậu quả thất thu ngân sách nhưng vẫn mong muốn thực hiện.

Để làm rõ ranh giới định tội danh, tác giả phân biệt tội trốn thuế với tội buôn lậu (Điều 153) và tội kinh doanh trái phép (Điều 159). Tội buôn lậu xâm phạm chế độ quản lý ngoại thương, hành vi trốn thuế là hệ quả tất yếu và bị cấu thành tội buôn lậu thu hút; người phạm tội chỉ bị xử lý thêm tội trốn thuế nếu thực hiện các hành vi trốn thuế độc lập khác. Tội kinh doanh trái phép xâm phạm trật tự quản lý hoạt động kinh doanh thương mại; nếu hành vi kinh doanh không đăng ký đã thỏa mãn cấu thành tội trốn thuế thì người phạm tội sẽ bị truy cứu về tội trốn thuế do tính chất nguy hiểm cao hơn.

Về tình hình tội phạm trốn thuế GTGT tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 – 2011, tác giả phân tích các thông số tội phạm học qua số liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Năm Số vụ trốn thuế Số bị cáo trốn thuế Tổng số vụ hình sự Tổng số bị cáo hình sự Tỷ trọng vụ án (%) Tỷ trọng bị cáo (%) Động thái số vụ (2007 làm mốc %) Động thái số bị cáo (2007 làm mốc %)
2007 2 5 1.133 2.763 0,17 0,18 100 100
2008 2 9 894 2.027 0,22 0,44 100 180
2009 2 4 1.899 1.389 0,11 0,28 100 80
2010 0 0 1.287 848 0,00 0,00 0 0
2011 1 5 423 923 0,23 0,54 50 100
Tổng cộng 7 23 5.636 7.950 0,12 0,29 - -

Số liệu cho thấy tội phạm rõ bị xử lý là rất thấp (7 vụ/23 bị cáo trong 5 năm, chiếm 0,12% tổng số vụ án hình sự). Tác giả chỉ ra độ ẩn của tội trốn thuế là rất cao do: hành vi diễn ra lén lút, khép kín trong sổ sách kế toán; đối tượng tác động là tài sản nhà nước nên người dân thiếu động lực tố giác; người tiêu dùng có tâm lý ngại phiền hà khi không lấy hóa đơn; và hiệu quả thanh tra, phát hiện của cơ quan chức năng còn hạn chế. Về động thái, mỗi vụ án có từ 4 đến 9 bị cáo, chứng minh tội trốn thuế mang tính chất đồng phạm và có tổ chức chặt chẽ.

Về phương thức, thủ đoạn phạm tội, đối tượng lợi dụng triệt để phương pháp khấu trừ thuế (Số thuế phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ) thông qua các thủ đoạn:

  • Mua bán hóa đơn GTGT bất hợp pháp để nâng khống thuế đầu vào được khấu trừ. Điển hình là vụ án Công ty Cổ phần Nhựa Tân Hóa (Bản án số 338/2011/HSST), giám đốc Nguyễn Thị Minh Châu và kế toán Huỳnh Lê Mỹ Thi đã mua 264 hóa đơn khống từ các đối tượng Phan Văn Sang, Bùi Trọng Nguyên, Huỳnh Thu Hà để trốn thuế.
  • Thành lập các doanh nghiệp "ma" không hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ nhằm mục đích bán hóa đơn GTGT rồi bỏ trốn.
  • Bán hàng không xuất hóa đơn để giấu doanh thu đầu ra, liên tục lập báo cáo tài chính thua lỗ hoặc khai thuế âm kéo dài. Tác giả dẫn chứng trường hợp Công ty Cổ phần Phong Vũ (báo cáo thuế âm gần 1 tỷ đồng) và Công ty Cổ phần Thương mại Nguyễn Kim (doanh số bán ra gần 200 tỷ đồng/tháng nhưng khai âm thuế liên tục; riêng tháng 11/2008 âm 5,7 tỷ đồng, các tháng đầu năm 2009 tiếp tục âm dẫn đến cơ quan thuế bị cấn trừ nợ lại đơn vị này 8 tỷ đồng).
  • Lập hóa đơn nhưng ghi số lượng, giá trị trên liên lưu giao nộp cơ quan thuế thấp hơn liên giao cho khách hàng; hoặc thông đồng với đối tác nước ngoài hạ giá trị hợp đồng nhập khẩu.

Đặc điểm nhân thân người phạm tội: Độ tuổi tập trung từ 30 đến 45 tuổi và trên 45 tuổi; có vị trí nghề nghiệp ổn định (chủ doanh nghiệp, giám đốc, kế toán trưởng); có trình độ học vấn và chuyên môn cao, am hiểu chính sách thuế và nghiệp vụ tài chính.

Chương 2: Nguyên nhân, điều kiện cụ thể của tội trốn thuế GTGT và các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm trốn thuế GTGT trên địa bàn TPHCM

Chương 2 phân tích các nhân tố phát sinh tội phạm và định hình phương hướng phòng ngừa:

Về nguyên nhân và điều kiện kinh tế - xã hội, tâm lý, tổ chức quản lý và pháp luật:

  • Kinh tế - xã hội: Mặt trái kinh tế thị trường đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận; áp lực cạnh tranh loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém khiến họ vi phạm pháp luật để tồn tại; ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến nghĩa vụ thuế trở thành gánh nặng; mức lương của cán bộ công chức thuế chưa bảo đảm đời sống dẫn đến tiêu cực.
  • Tâm lý - văn hóa xã hội: Sự du nhập lối sống thực dụng, đề cao vật chất; sự suy giảm lòng tin của người nộp thuế vào đội ngũ hành thu trước tình trạng tham nhũng; nhận thức về lợi ích công cộng từ tiền thuế còn mơ hồ; người dân đô thị chưa thấy chất lượng hạ tầng (ngập nước, kẹt xe, ô nhiễm) tương xứng với tiền thuế đóng góp.
  • Tổ chức và quản lý xã hội: Cơ cấu tổ chức cơ quan thuế theo cơ chế song trùng chỉ đạo làm giảm tính chuyên sâu; thiếu hụt trầm trọng lực lượng thanh tra thuế (mỗi thanh tra viên phải kiểm tra khoảng 40 doanh nghiệp/năm, thời gian kiểm tra dưới 1 tháng/doanh nghiệp nên không đủ điều kiện phân tích rủi ro); khâu tuyển dụng, đào tạo cán bộ còn nhiều bất cập, phát sinh tình trạng tiêu cực, dung túng doanh nghiệp trốn thuế.
  • Pháp luật và đấu tranh phòng chống: Biểu thuế GTGT áp dụng 3 mức thuế suất (0%, 5%, 10%) phức tạp, dễ gây tùy tiện và tạo kẽ hở phân loại mặt hàng; phương pháp tính thuế trực tiếp còn tồn tại gây trùng thuế; cơ chế cho phép doanh nghiệp tự in hóa đơn tiềm ẩn nguy cơ lợi dụng hóa đơn thật ngoài tầm kiểm soát; quy định thành lập doanh nghiệp thông thoáng theo Luật Doanh nghiệp 2005 bị lợi dụng lập doanh nghiệp "ma"; chưa truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân; cơ quan điều tra công an còn hoàn toàn bị động, phụ thuộc vào kết luận giám định kéo dài của ngành thuế (vụ Nhựa Tân Hóa mất 2 năm để hoàn thành giám định).

Về nguyên nhân và điều kiện dưới góc độ tội phạm cụ thể:

  • Từ phía người phạm tội: Mâu thuẫn giữa nhu cầu vật chất vô hạn và khả năng đáp ứng thực tế; định hướng giá trị cá nhân ích kỷ, đặt lợi nhuận lên trên trách nhiệm xã hội; ý thức pháp luật có sự hiểu biết nhưng cố tình lách luật; trình độ học vấn cao được sử dụng để che giấu hành vi.
  • Hoàn cảnh phạm tội cụ thể: Người phạm tội chủ động tạo hoàn cảnh (ghi chênh lệch liên lưu, không xuất hóa đơn) hoặc lợi dụng sự sơ hở, thiếu trách nhiệm, tiếp tay từ phía cán bộ quản lý thuế.

Về dự báo tình hình tội phạm: Trong thời gian tới, tội phạm trốn thuế GTGT tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm; cơ cấu người phạm tội có xu hướng trẻ hóa (dưới 30 tuổi gia tăng do trình độ công nghệ thông tin phát triển), tỷ lệ nữ giới phạm tội tăng do nắm giữ nhiều vị trí quản lý; thủ đoạn phạm tội tinh vi hơn qua mạng internet, thương mại điện tử và sự cấu kết tham nhũng với cán bộ thuế.

Hệ thống giải pháp phòng ngừa được chia thành hai nhóm:

  • Nhóm giải pháp chung: Phát triển kinh tế gắn với hoàn thiện phân phối; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật và công khai minh bạch việc sử dụng ngân sách; chuẩn hóa quy trình tuyển dụng và tăng cường kiểm tra nội bộ ngành thuế; hợp lý hóa biểu thuế suất GTGT theo hướng đơn nhất; siết chặt hậu kiểm doanh nghiệp thành lập mới; bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào Bộ luật Hình sự.
  • Nhóm giải pháp cụ thể: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán; tăng cường kiểm tra tính hợp lệ của hóa đơn tại nguồn; nâng cao năng lực chủ động điều tra của lực lượng công an, hạn chế thời gian giám định tư pháp thuế kéo dài.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên việc xử lý dữ liệu thực tế:

  • Tổng hợp toàn diện thực trạng xét xử tội trốn thuế GTGT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm (2007 – 2011), chỉ ra tỷ lệ xử lý hình sự rất thấp (7 vụ, 23 bị cáo trên tổng số 5.636 vụ án hình sự, đạt 0,12%), từ đó chứng minh bằng số liệu về độ ẩn rất lớn của loại tội phạm này.
  • Phân tích chi tiết quy trình tổ chức thực hiện hành vi trốn thuế thông qua vụ án điển hình của Công ty Cổ phần Nhựa Tân Hóa (Bản án số 338/2011/HSST), phản ánh thực trạng sử dụng 264 hóa đơn GTGT bất hợp pháp và điểm nghẽn kéo dài 2 năm trong khâu giám định tư pháp thuế.
  • Nêu rõ các số liệu khai báo thuế âm kéo dài từ các doanh nghiệp kinh doanh lớn như Công ty Cổ phần Phong Vũ và Công ty Cổ phần Thương mại Nguyễn Kim (cấn trừ số thuế âm dẫn đến Nhà nước nợ thuế 8 tỷ đồng), phản ánh lỗ hổng trong cơ chế hậu kiểm doanh thu.
  • Đề xuất các giải pháp lập pháp thực chất: kiến nghị bổ sung chủ thể pháp nhân vào cấu thành tội phạm trốn thuế trong Bộ luật Hình sự; điều chỉnh cơ cấu thuế suất thuế GTGT nhằm xóa bỏ tình trạng lách mức thuế 5% và 10%; tháo gỡ điểm nghẽn phối hợp giữa Cơ quan điều tra và cơ quan thanh tra thuế.

So với các công trình nghiên cứu trước đây (chủ yếu nghiên cứu lý luận chung hoặc chính sách thuế trên bình diện cả nước), khóa luận đã đóng góp một công trình nghiên cứu tội phạm học chuyên biệt tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận cấu thành tội phạm với số liệu tư pháp và cơ chế hành thu thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Dữ liệu thống kê hình sự mới chỉ khai thác được phần tội phạm rõ qua số liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong phạm vi 5 năm (2007 – 2011), chưa bao quát toàn diện số liệu xử phạt vi phạm hành chính của toàn ngành thuế thành phố.
  • Số lượng bản án hình sự về tội trốn thuế được đưa ra phân tích chuyên sâu còn hạn chế do số vụ án bị khởi tố, truy tố và xét xử trên thực tế rất ít.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:

  • Mở rộng nghiên cứu tội phạm trốn thuế trong các lĩnh vực kinh doanh mới phát sinh, đặc biệt là thương mại điện tử, bán hàng qua truyền hình và internet.
  • Đánh giá tác động thực tế của cơ chế tự in hóa đơn của doanh nghiệp đối với tình hình gian lận thuế GTGT trong giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tội phạm học, cũng như cán bộ nghiên cứu về pháp luật quản lý kinh tế. Nội dung phân tích các dấu hiệu cấu thành pháp lý, sự phân biệt giữa tội trốn thuế với tội buôn lậu và kinh doanh trái phép là nguồn tư liệu phục vụ tốt cho công tác giảng dạy và học tập các môn Luật Hình sự Việt Nam và Tội phạm học.

Đối với các cán bộ thực tiễn thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Viện kiểm sát và cán bộ thanh tra ngành thuế, các mục phân tích về thủ đoạn gian lận khấu trừ thuế, doanh nghiệp "ma" và phương thức ghi chênh lệch các liên hóa đơn cung cấp góc nhìn thực tiễn có giá trị phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và thu thập chứng cứ.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận xác định định lượng số tiền trốn thuế bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 1999?
Hành vi trốn thuế phải gây hậu quả thất thu từ 100 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm theo Điều 161 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nếu số tiền trốn thuế dưới 100 triệu đồng thì chỉ bị xử lý hình sự khi người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này (hoặc một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế liên quan) mà chưa được xóa án tích.

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bao nhiêu vụ án trốn thuế trong giai đoạn 2007 – 2011?
Trong giai đoạn 2007 – 2011, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ xét xử sơ thẩm 7 vụ án trốn thuế với 23 bị cáo (chiếm tỷ trọng 0,12% về số vụ và 0,29% về số bị cáo trong tổng số 5.636 vụ án hình sự với 7.950 bị cáo). Năm 2010 không có vụ án trốn thuế nào được đưa ra xét xử.

Vụ án điển hình nào được phân tích chi tiết trong khóa luận và thủ đoạn phạm tội là gì?
Đó là vụ án tại Công ty Cổ phần Nhựa Tân Hóa (Bản án hình sự sơ thẩm số 338/2011/HSST ngày 27/09/2011 của TAND TP.HCM). Giám đốc Nguyễn Thị Minh Châu và kế toán Huỳnh Lê Mỹ Thi đã mua và sử dụng 264 số hóa đơn GTGT đầu vào khống do Phan Văn Sang, Bùi Trọng Nguyên, Huỳnh Thu Hà cung cấp trong giai đoạn từ tháng 12/2005 đến ngày 31/12/2008 nhằm tăng số thuế đầu vào được khấu trừ để trốn thuế.

Vì sao cơ quan điều tra công an còn gặp khó khăn, bị động trong việc xử lý tội phạm trốn thuế theo nhận định của tác giả?
Phần lớn các vụ án trốn thuế đều bắt nguồn từ việc cơ quan thuế phát hiện rồi mới chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra. Quy trình xử lý hình sự phụ thuộc hoàn toàn vào kết luận giám định tư pháp của ngành thuế; khâu giám định này thường kéo dài (như vụ án Công ty Nhựa Tân Hóa mất đến 2 năm), làm mất tính kịp thời, tăng nguy cơ tẩu tán tài sản và gây khó khăn cho việc thu hồi tiền thuế thất thoát.

Tác giả đưa ra những kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật nào đáng chú ý?
Tác giả kiến nghị bổ sung chủ thể pháp nhân vào diện chịu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế để xử lý triệt để các vi phạm do tổ chức thực hiện; đồng thời đề xuất cải cách chính sách thuế GTGT theo hướng chuyển dần sang áp dụng một mức thuế suất duy nhất nhằm loại bỏ kẽ hở phân loại áp thuế giữa mức 5% và 10%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Xuân Đài đã hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý của tội trốn thuế theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và làm rõ thực trạng tình hình tội phạm trốn thuế GTGT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 – 2011. Thông qua việc phân tích số liệu xét xử sơ thẩm và các vụ án thực tế, công trình đã chỉ ra độ ẩn rất cao cùng các thủ đoạn tinh vi lợi dụng cơ chế khấu trừ thuế và buông lỏng quản lý hóa đơn. Trên cơ sở làm rõ các nguyên nhân, điều kiện kinh tế, xã hội và tổ chức bộ máy, đề tài đã xây dựng hệ thống giải pháp và kiến nghị lập pháp có giá trị thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trốn thuế tại trung tâm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.