CHƯƠNG 1: TỘI TRỐN THUẾ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 (ĐÃ ĐƯỢC SỬA ĐỔI BỔ SUNG NĂM 2009) VÀ TÌNH HÌNH TỘI TRỐN THUẾ GTGT TRÊN ĐịA BÀN TPHCM. Tội trốn thuế theo BLHS 1999: 1. Khái niệm trốn thuế: Thuế là khoản nộp bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng pháp luật mà các cá nhân, tổ chức phải nộp vào ngân sách nhà nước. Các khoản nộp này không mang tính đối giá và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế [13-tr.
Nộp thuế vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức. Hiện nay, hệ thống thuế nước ta gồm nhiều sắc thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT…trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tác giả chỉ trình bày nội dung của thuế GTGT. Thuế GTGT là loại thuế thu vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đây là một loại thuế có nhiều vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia.
Thế nhưng ở nước ta hiện nay, hành vi trốn thuế GTGT là một hành vi khá phổ biến. BLHS năm 1999 quy định về tội trốn thuế tại Điều 161, tuy nhiên điều luật này lại không định nghĩa thế nào là trốn thuế. Thuật ngữ “trốn thuế” đã được định nghĩa tại Điều 7 Nghị định 100/2004/NĐ-CP ngày 25/02/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, theo đó “hành vi trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn giảm”. Tuy nhiên Nghị định này đã bị bãi bỏ bởi Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 về xử lý vi phạm pháp luật thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
Nghị định mới này chỉ nêu ra mức xử phạt đối với những hành vi trốn thuế được quy định tại Điều 108 Luật quản lý thuế, chứ không còn đề cập đến khái niệm trốn thuế nữa. SVTH: Trần Xuân Đài Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh Việc liệt kê một cách cụ thể hành vi nào là trốn thuế giúp cơ quan quản lý thuế có thể dễ dàng hơn trong việc xử lý vi phạm, tránh sự nhầm lẫn cũng như tùy tiện trong việc xác định hành vi trốn thuế. Về phía người nộp thuế, họ sẽ biết được những hành vi nào là vi phạm, từ đó sẽ điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tác giả cũng xin đưa ra khái niệm trốn thuế GTGT để có thể tiếp cận dễ dàng hơn với loại tội phạm này.
Theo đó hành vi trốn thuế GTGT có thể hiểu là hành vi của các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế. Với mục đích làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn bằng một trong các thủ đoạn được quy định trong Luật quản lý thuế năm 2006 như không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán; sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế… 1. Dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế theo BLHS 1999: Trốn thuế là một hành vi phạm pháp, tùy theo mức độ nghiêm trọng và số tiền thuế trốn mà người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để xem xét một hành vi trốn thuế là tội phạm hay chỉ là hành vi vi phạm pháp luật hành chính thông thường thì ta phải hiểu được bản chất của hành vi đó.
Theo đó, bản chất của tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội mà ta có thể nhận biết nó qua bốn dấu hiệu đó là tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt. Tính nguy hiểm cho xã hội: Hành vi trốn thuế phải có tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể thì mới xem là tội phạm. Mức độ đáng kể ở đây chính là số tiền trốn thuế (trên 100 triệu đồng) hoặc thái độ của chủ thể vi phạm (đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn tái phạm, đã bị kết án về tội trốn thuế hoặc các tội có liên quan, chưa được xóa án tích). Do đó khi hành vi trốn thuế lần đầu với số tiền dưới 100 triệu đồng thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.
SVTH: Trần Xuân Đài Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh Tính có lỗi: Chủ thể thực hiện hành vi trốn thuế hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra. Tính trái pháp luật hình sự: Hành vi trốn thuế ở mức độ nguy hiểm cao thì sẽ xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Khi này hành vi trốn thuế mang tính chất là trái pháp luật hình sự. Một hành vi vi phạm pháp luật hành chính thông thường sẽ không có dấu hiệu này.
Tính phải chịu hình phạt: Hành vi trốn thuế bị xem là tội phạm sẽ là cơ sở cho việc áp dụng hình phạt. Đối với hành vi trốn thuế ở mức độ vi phạm pháp luật hành chính thì chỉ chịu các biện pháp chế tài hành chính mà thôi. Các dấu hiệu trên giúp nhận biết bản chất của một hành vi phạm pháp là tội phạm hay là hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Tuy nhiên để hiểu rõ, nhận diện tội phạm trốn thuế với các loại tội phạm khác, ta phải nghiên cứu mô hình pháp lý của loại tội phạm này thông qua các dấu hiệu đặc trưng của nó trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm sau.
Khách thể của tội trốn thuế: Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [14-tr.77], được quy định tại Điều 1 và Điều 8 BLHS năm 1999. Thuế là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước và có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia. Việc quản lý thu nộp thuế đảm bảo trật tự, ổn định và phát triển nền kinh tế quốc dân. Do đó đây là một trong những quan hệ xã hội quan trọng được luật hình sự bảo vệ và được xếp trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại chương XVI BLHS 1999.
Khách thể của tội trốn thuế là trật tự quản lý việc thu nộp thuế của Nhà nước, cụ thể là chính sách thuế của Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực. Chính sách thuế ở đây là các văn bản pháp luật về thuế thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ kinh tế xã hội. Việc SVTH: Trần Xuân Đài Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh xâm phạm chính sách thuế này sẽ làm thất thu ngân sách nhà nước, làm mất đi tính công bằng của thuế. Tuy nhiên, một hành vi phạm tội để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại được cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, phải tác động lên đối tượng tác động của tội phạm.
Hành vi phạm tội trốn thuế có đối tượng tác động là số tiền thuế mà người phạm tội phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Cụ thể người phạm tội sẽ dùng mọi thủ đoạn để không phải nộp thuế hoặc làm giảm số thuế phải nộp, tăng số thuế được hoàn. Mặt khách quan của tội trốn thuế: Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà chúng ta có thể nhận biết được bằng trực quan sinh động. Tội trốn thuế có cấu thành vật chất nên dấu hiệu cơ bản thuộc mặt khách quan của tội này gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội: Người phạm tội thực hiện hành vi trốn thuế. Như đã trình bày, Điều 161 BLHS 1999 không định nghĩa thế nào là trốn thuế. Do đó để xác định hành vi nào là trốn thuế ta chỉ có thể căn cứ vào các hành vi được quy định tại Điều 108 Luật quản lý thuế bao gồm các hành vi như không đăng ký kê khai; kê khai gian dối, lập hóa đơn chứng từ giả, làm sai lệch sổ sách kế toán …và căn cứ vào một số dấu hiệu khách quan khác để truy cứu trách nhiệm hình sự về loại tội phạm này. Thuế ở đây là tất cả các loại thuế như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp… Hậu quả: Hậu quả về số tiền thuế trốn là một trong những căn cứ quan trọng để đo lường tính nguy hiểm của hành vi vi phạm.
Trên cơ sở đó xác định ranh giới phân biệt tội trốn thuế và hành vi vi phạm hành chính về thuế. Hành vi trốn thuế đều gây ra hậu quả nguy hiểm là làm thất thu thuế. Tuy nhiên để được coi là tội phạm thì mức độ thiệt hại là số tiền trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng người trốn thuế đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án và chưa được xóa án tích về tội trốn thuế hoặc về SVTH: Trần Xuân Đài Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh một trong các tội phạm có liên quan. Như vậy, những hành vi trốn thuế lần đầu, số lượng dưới 100 triệu đồng không cấu thành tội trốn thuế mà thuộc diện xử lý hành chính.
Mối quan hệ nhân quả: Hậu quả thất thu thuế phải là hệ quả trực tiếp của hành vi trốn thuế. Chủ thể của tội trốn thuế: Chủ thể của tội phạm trốn thuế là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Điều 161 BLHS năm 1999 không xác định cụ thể chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên chỉ những người theo quy định của pháp luật phải nộp thuế, tức phải là đối tượng nộp thuế thì mới trở thành chủ thể của tội trốn thuế.
Theo quy định của Luật hình sự, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là cá nhân.